Creation Yersinienne:‎ > ‎Articles‎ > ‎

THOÁT BỜ VỰC THẲM

posted Oct 10, 2012, 4:55 PM by Andy Nguyen   [ updated Oct 10, 2012, 4:56 PM ]
 
THOÁT BỜ VỰC THẲM

 

                                                Hà Mai Kim  ( 1968)

 

 

 

 

 

Thế là vợ chồng nó lại cãi nhau. Cãi khỏe lắm. Tuần nào cũng cãi, ít nhứt là một lần. Không cãi không chịu được. Tình trạng này không thể kéo dài mãi, nó sẽ làm điên đầu các binh sĩ trong Đại đội. Tùng chưa biết phải xử trí ra sao. Anh không muốn can thiệp vào nội bộ của gia đình nó. Anh biết với tư cách Trưởng Đồn, anh chỉ nói một tiếng là nó không dám cãi nữa.

“Nó” đây là thằng Tư, người mang máy Truyền tin cho anh. Tư tuy hay rượu chè, hay kiếm chuyện với vợ, nhưng lại rất “chịu lệnh.” Khi cấp trên nói nó nghe ngay.

Tùng lười biếng nằm trên chiếc ghế bố nhà binh cũ kỹ. Vương vãi đâu đó một vài tờ báo cũ mèm. Anh lơ đễnh nhìn khẩu M.16 treo trên cột. Kế đó là chiếc áo giáp và cái nón sắt. Tất cả gia tài của anh gồm có vậy. Căn hầm Truyền tin lờ mờ ánh sáng. Tia nắng mặt trời hắt vào một cách yếu ớt. Vì an toàn, Tùng đã cho đắp đất kín mít, chỉ chừa một cửa thật nhỏ đủ cho một người vào lọt.

Hình như hôm nay là Chủ Nhựt. Tùng đoán vậy, vì anh láng máng nghe tiếng giới thiệu của xướng ngôn viên, trong mục tuyển lựa ca sĩ. Tùng chán nản nghĩ:

-   Lại một sáng Chủ Nhựt bình thường và buồn tẻ, như hàng trăm buổi sáng khác.

Ngoài kia, cường độ cãi nhau của cặp vợ chồng nọ đã giảm sút rõ rệt. Tùng cảm thấy đói. Anh ngồi nhổm dậy, nói vọng ra:

-   Tư ơi, Hưu chiến chưa? Vô ăn cơm, đói quá rồi.

Từ căn phòng kế cận, vợ Tư nhanh nhẩu trả lời:

-   Dạ em làm cơm xong từ lâu rồi, Trung Úy. Em sợ sáng nay Đại đội mình phải đi công tác, nên đã nấu từ sớm.

Tùng xỏ vội đôi bốt đờ sô, lách ra khỏi hầm. Ánh sáng ban mai làm anh chóa mắt. Thằng Tư ngồi chồm hổm trên đống thùng đạn súng cối, nét mặt còn giận dữ. Thấy Tùng, nó phân bua:

-   Trung Úy nghĩ coi ai mà chịu cho được?

Tùng gạt ngang:

-   Thôi tao xin, mày nói dai như giẻ rách.

Rồi anh hạ giọng đủ cho nó nghe:

-   Tao biết mày có lý rồi!

Câu nói của anh có một hiệu lực tức khắc. Mặt thằng Tư rạng rõ lên ngay. Bao nỗi ưu phiền đều tan biến. Nó bất cần tất cả, miễn cấp trên thông cảm nó là đủ? Nó dẫn Tùng vào phòng. Hai người đều phải cúi xuống để khỏi đụng đầu. Mâm cơm đã được dọn sẵn trên giường. Tô cá lóc nấu canh chua cùng dĩa tôm chiên vàng ngậy, làm Tùng nuốt nước bọt. Vợ Tư nói:

-   Hôm qua Trung Úy nhắc đến canh chua. Sáng nay có một ghe hàng đi qua. Em năn nỉ mãi họ mới nhín cho một con cá lóc. Em có pha nước mắm ớt.

Tùng mỉm cười trả lời:

-   Cám ơn chị.

Tùng vẫn có thói quen “mày tao” với Tư. Nhưng đối với vợ nó, lúc nào anh cũng tỏ ra lịch sự, vì vợ nó không làm việc dưới quyền anh. Thằng Tư ực xong một ly rượu đế. Nó “khà” một tiếng rồi nói:

-   Con vợ em chỉ được có một điểm là nó rất quí nể Trung Úy. Nó mà xấc láo là em “mần” ngay. Ai chứ thằng Tư này “chịu chơi” lắm!

Rất quí nể Trung Úy? Tùng hoàn toàn đồng ý với Thằng Tư điểm này. Và đôi khi, qua những lời ăn tiếng nói, vợ nó còn dành quá nhiều cảm tình cho anh. Nghĩ đến đó, anh giật mình, vội và miếng cơm rồi bước về phòng, trước cặp mắt ngạc nhiên của thằng Tư.

Khi còn ở quân trường, có người đã mách Tùng một “tuy dô” thật tốt, bảo đảm “chăm phần chăm” là Tùng sẽ được làm việc văn phòng, ngay tại Sàigòn. Tội nghiệp Má Tùng, vì thương con bà cụ đã hốt non hai cái hụi, và bán vội mấy lạng vàng – mà bà đã dành dụm từ bao giờ - để “chạy thuốc” cho con. Khi biết được, Tùng đã phản đối kịch liệt. Không phải anh muốn làm anh hùng rơm. Cũng không phải anh chê công việc văn phòng. Nhàn nhã, khỏe tấm thân, lại đeo chữ “thọ” to tổ chảng thì ai chẳng ham? Nhưng ai cũng lo chạy thuốc rồi lấy người đâu ra đánh giặc? Vả lại, với số tiền đó – tiền mô hôi nước mắt – chứ chơi sao? Má Tùng có thể mua cái đồng hồ cho thằng Long, cái xe Vélo cũ cho con Diễm, và ông cụ một bộ com lê… Tùng nỡ lòng nào, chỉ vì ích kỷ và hèn nhát, mà bắt những người thân phải hy sinh. Anh phó mặc cho con tạo xoay vần. Cho nên khi cần Sự vụ Lệnh đổi về Tiểu khu này, một Tiểu khu nhỏ nhưng chiến trận nặng nhất Vùng IV, Tùng đã không tỏ một chút ân hận. Anh tò mò chờ xem số phận sẽ đưa đẩy anh tới đâu. Lúc trình diện Phòng 1 Tiểu khu, Ông Đại Úy Trưởng phòng đi ngay vào vấn đề:

-   Anh có muốn phục vụ tại chỗ tốt không?

Tùng đáp không suy nghĩ:

-   Thưa Đại Úy, tôi muốn lắm chứ! Nhưng tôi nghèo.

Ông Đại Úy chỉ cười nhẹ. Hai ngày sau, trong một phi vụ tiếp tế, một chiếc Trực thăng đã bốc Tùng, thả xuống một cái Đồn thật hẻo lánh. Đó là một khu đất hình Tam giác đều, mỗi cạnh khoảng một trăm năm chục mét, được binh sĩ và các nông dân quanh đó đắp vội các bờ thành, và đào các giao thông hào. Nhiều lớp giây kẽm gai bao bọc đồn, trông như một cái “Kén tơ” khổng lồ, mà các binh sĩ là những con tằm. Chung quanh Đồn chỉ có rừng Tràm. Một con sông nhỏ, độ hơn bốn mươi mét bề ngang, chảy trước mặt Đồn, là huyết mạch của Đại đội. Nhờ nó, mà vợ con binh sĩ có thể đi đò ra Tỉnh mua đồ về ăn. Mới đầu Tùng được coi một Trung đội. Hơn một năm sau, Ông Đại đội Trưởng bị “bắn sẻ” chết, nên Tùng lên thay ông ta.

Ngay từ khi mới đặt chân đến Đồn, Tùng đã để ý đến Tư. Hắn kém Tùng chừng bốn hay năm tuổi gì đó. Nó hoạt bát, thông minh, lại ca cải lương rất mùi. Thật ra Tùng chẳng ưa gì cải lương. Nhưng lúc buồn, ngồi nghe nó gân cổ ca còn hơn là nằm chèo queo, vắt tay lên trán nghĩ vẩn vơ. Anh chọn Tư làm Truyền tin cho Trung đội. Sau một khóa tu nghiệp, Tư được Tùng cho giữ Truyền tin Đại đội. Tư là cái miệng, cái tai của Đại đội! Nó theo Tùng như hình với bóng. Lúc đụng trận, Tùng chạy, nó chạy. Tùng leo rào, nó leo rào, Tùng nhảy xuống hố, nó cũng nhảy theo. Tùng thường đùa với Tư:

-   Mày bám tao hơn chủ nợ. Kiếp trước tao thiếu mày bao nhiêu tiền?

Tư chỉ nhăn chiếc răng sún ra cười. Ngoài tình huynh đệ chi binh ra, Tùng còn mang một ơn nặng đối với thằng Tư: Ơn cứu tử. Trong một cuộc hành quân, Đại đội bị phục kích. Một trái đạn 82 ly nổ gần bên Tùng. Anh thấy đau nhói ở bắp vế. Anh cúi xuống, chiếc quần Treillis đẫm máu. Anh kêu lên:

-   Tư ơi tao bị thương rồi!

Thằng Tư lúc ấy cũng không khấm khá gì hơn, mặt mũi nó bê bết những máu. Tùng không kịp hỏi thăm nó đã thấy những vòng tròn đủ màu sắc to dần, to dần trước mắt anh, rồi anh không biết gì nữa. Trước khi ngất đi, anh còn nghe mang máng, tiếng hô xung phong cùng tiếng tù và thúc quân của địch. Về sau anh được biết, lúc anh bị thương, Đại đội như rắn mất đầu rối loạn hàng ngũ, mạnh ai nấy chạy. Thằng Tư bị thương nhẹ còn chạy được. Nhưng nó không nỡ bỏ “Ông Thầy” lại. Nên nó quăng máy Truyền tin ra sức dìu Tùng trốn vô bụi cây, rồi nó cũng xỉu luôn. Sự cố gắng quá độ đã làm nó suýt mất mạng vì máu ra nhiều quá! Nó đã thoát khỏi tay Tử thần trong đường tơ kẽ tóc. Kể từ đó, tình thầy trò giữa hai người càng thắm thiết, khó có bút nào tả xiết được.

Theo lời của Tư, thì nó đã có vợ và một con ở Ba Xuyên. Vợ nó là con gái một nhà nông có tiền của, lại khá đẹp nữa, nên rất kiêu căng, coi nó chẳng ra gì.

-   Trung Úy nghĩ coi, chẳng bao giờ nó thèm đi thăm em. Em chỉ gặp mẹ con nó trong những lần về phép.

-   Ai bảo mày không chịu lựa chọn kỹ trước khi mày cưới?

Thằng Tư cãi lại.

-   Nó đòi cưới em chớ bộ! Em chỉ xuống có mấy câu vọng cổ là nó chịu em liền. Nó dọa tự tử nếu nó không lấy được em. Bây giờ em muốn cho nó gài “số de” quá Trung Úy.

-   Ý đâu được mậy! Mày phải nghĩ tới đứa nhỏ chứ. Nó làm chi nên tội? Ông trời Ổng có mắt Tư à! Ăn ở không phải là kẹt ngay! Nghe tao đi Tư.

Cuộc đời của Tùng cứ bình thản trôi qua. Ban ngày đi hành quân, ban đêm đi kích. Thật ra, Đồn anh trấn giữ không có một tầm quan trọng nào, ngoài vai trò làm cái gai trong chân địch. Sự đi lại cũng như tiếp tế của bọn chúng, do đó mà gặp khó khăn hơn.

Đại đội anh không đủ quân số, lại thiếu trang bị, nên địch có thể đánh chiếm bất cứ lúc nào. Cái mốt “Công đồn đả viện” của bọn Vẹm, nếu đem áp  dụng ở nơi này chỉ được có một nửa. Nếu dồn hết lực lượng để công đồn này, có thể lấy được ngay. Còn đả viện thì có viện binh đâu mà “đả”. Bởi ở một nơi xa xôi hẻo lánh như vầy, Tỉnh làm sao có đủ quân số, và phương tiện để đưa đến giải cứu kịp thời cho được? Họa chăng là có máy bay. Nhưng máy bay cũng chỉ kịp đến để thả trái sáng, hoặc thu dọn chiến trường!

Tuy nhiên, địch đã không tấn công. Chúng chẳng dại gì hy sinh một số quân, tối thiểu phải bằng gấp ba lần số quân của Tùng, mà chẳng gây nên một tiếng vang nào. Tùng cũng biết như vậy nên anh cam phận làm Trưởng Đồn, để chờ một ngày tươi sáng nào đó, hòa bình thật sự trở lại quê hương.

Tùng còn nhớ, cũng một buổi sáng Chúa Nhựt, hôm Đại đội anh được nghỉ dưỡng quân. Hai thầy trò rủ nhau ra ven sông, có một chiếc ghe hàng mới tới. Tùng định bụng sẽ mua một ít lặt vặt như kẹo bánh, cái khăn mặt, cùng kem đánh răng rồi về. Lúc đó, có một chiếc xuồng nhỏ chở ổi, vừa cặp bến cạnh chiếc ghe hàng. Anh bỗng sững sờ nhìn cô gái bán ổi, một cô gái quê, trên dưới hai mươi, đang cắm sào ở mũi xuồng. Cô có thân hình chắc nịch, thật đẹp. Chiếc áo bà ba đen, như đồng lõa, làm nổi bật làn da trắng mịn của cô. Tuy cô không có một vẻ đẹp sắc sảo, nhưng chỉ với đôi mắt đen huyền ấy, cũng đủ làm say mê người đối diện, đặc biệt là Tùng, một thanh niên độc thân!

Anh vô tình quay lại nhìn Tư, nó đang há hóc mồm một cách khả ố. (Sau này Tùng vẫn tự hỏi, tại sao lại có thể độc ác dùng tiếng khả ố để gán cho Tư, hay Tùng ghen…)

Cô hàng mời Tùng:

-   Ông Trưởng Đồn mua dùm em ít ổi.

Tùng chưa kịp trả lời, thì thằng Tư đã cộc lốc sửa:

-   Trưởng Đồn gì? Trung Úy tôi đó!

Cô vẫn tiếp tục nhìn Tùng:

-   Dạ mời Ông Trung Úy mua dùm em ít ổi. Có năm chục đồng một chục mười bốn hà!

(Theo địa phương, một chục gồm mười bốn trái.)

Tùng cố moi óc để tìm một câu tán tỉnh hay nhất:

-   Nếu tôi có đủ tiền, tôi sẽ mua hết ổi cho cô.

Cô gái cúi xuống, cố lấy nón che vội nụ cười e thẹn của mình. Nhưng Tùng cũng còn kịp nhìn thấy chiếc răng khểnh, xinh thật là xinh. Vợ con binh sĩ cũng ùa ra mua ổi. Chẳng mấy lúc, chiếc ghe đã vơi đi khá nhiều. Trước khi rời bến, cô hàng ổi đã không quen kkín đáo mỉm cười chào Tùng. Tùng ngơ ngẩn nhìn theo, thằng Tư kéo Tùng về hiện tại:

-   Con nhở có vẻ chịu Trung Úy lắm đó!

Tùng sung sướng:

-   Chịu ở điểm nào đâu? Tao chưa cảm thấy gì cả?

-   Ông thầy giả đò hoài, tội nghiệp “con” quá!

Tùng hơi mích lòng:

-   Tao giả đò hồi nào?

-   Thì Trung Úy biết chớ ai mà biết! Thôi được, nếu Trung Úy không thích thì để đó cho em!

Tùng buột miệng:

-   Mầy có ngon thì nhào dô đi. Tao nhường đó.

Nói xong anh ân hận ngay, chính con tim anh, cũng thấy rung động phần nào bởi hình bóng cô gái quê. Anh dọa Tư một cách yếu ớt:

-   Vợ mày ở Ba xuyên xuống sẽ xé xác mày ra!

-   Sức mấy, Ông thầy! Có bao giờ nó mò đến đây đâu mà em sợ. Trai năm thê bảy thiếp, có gì là lạ. Cả họ nhà của em đều hai vợ!

Tùng chưa biết tính sao thì thằng Tư nói thêm:

-   Trung Úy cho phép em nhào vô héng?

Rồi nó chìa tay ra cho Tùng “Quân tử nhứt ngôn.” Tùng miễn cưỡng bắt tay nó. Anh chưa bao giờ ghét nó như lúc này. Anh thẩn thờ bước về đồn.

Thế rồi vì bổn phận, vì hy sinh, anh cố gắng xóa nhòa hình bóng cô gái quê trong tim anh. Mỗi lần cô đến bán ổi chỉ mình thằng Tư ra mua. Thảng hoặc nó về “bá cáo” lại là cô hàng có hỏi thăm anh. Mỗi lần như vậy anh thấy đau nhói. Nhưng rồi những lời hỏi thăm cũng thưa dần. Việc phải đến đã đến; sau một thời gian, cô hàng ổi bằng lòng về sống chung với thằng Tư. Tùng sẽ buồn nhiều, nếu biết được cô hàng chịu thằng Tư chỉ vì cô tưởng anh chê cô ta, và cô nhận lời lấy Tư để trả thù anh.

Thằng Tư có làm một buổi cơm đạm bạc để đãi anh em. Lẽ dĩ nhiên Tùng có tham dự. Hôm ấy, anh uống hơi nhiều, mặc dầu anh không hề uống rượu.

Trước kia, hai thầy trò cùng chung sống trong hầm Truyền tin. Nhưng nay nó có vợ, một cô vợ bé, nên căn hầm được chia làm hai. Đã chật lại càng chật thêm! Thằng Tư lấy lá buông làm vách để ngăn đôi. Nó còn lấy tấm drap che lên cho kín đáo. Bởi nhiệm vụ, Tư không thể sống xa Tùng được, vì lỡ có chuyện gì thì còn chạy sang cho kịp, để mở máy Truyền tin liên lạc với các nơi. Vợ Tư, tức cô hàng ổi, bây giờ kiêm việc nấu cơm cho Tùng ăn, và thường chọn những món ăn mà anh ưa thích. Vợ chồng nó chỉ hòa thuận được mấy tháng. Lúc đầu vợ nói chồng nghe, sau đó chồng nói vợ nghe, và bây giờ cả hai cùng nói để người khác phải nghe, trong số đó có Tùng.

Tư đưa công điện Hành quân vừa mới nhận được cho Tùng xem:

-   Có lệnh Hồng Hà Quang Trung, Trung Úy!

Rồi hắn càu nhàu trong miệng:

-   Mẹ, Chúa Nhựt cũng không được nghỉ.

-   Mày cho lệnh các Trung đội súng đạn sẵn sàng, Tư! Mình sẽ khởi hành trong mười lăm phút nữa.

Đồn Thanh Long, nằm cách Đồn của Tùng khoảng hai mươi cây số đường chim bay, gần sáng nay bị tấn công. Anh dược lệnh dẫn hai Trung đội đến  điểm X để chặn đường rút lui của địch. Muốn tới đó, anh phải băng qua một rừng Tràm rất dày, là nơi thường ẩn náu của du kích. Anh cẩn thận cho cánh quân đi theo đội hình hàng dọc. Khoảng cách giữa hai người không quá xa để khỏi bị lạc, cũng không quá gần, để có thể gây nguy hiểm cho người kế cận, rủi khi đạp mìn bẫy. Binh sĩ bì bõm lội, nhiều chỗ nước ngập quá lưng quần. Những con đỉa đói bơi nhanh theo họ. Thường nhật Tùng rất sợ đỉa, nhưng ở trong trường hợp này, anh phải nghiến răng chịu trận. Anh vén lá tràm nhìn người lội trước để khỏi lạc. Thỉnh thoảng anh ngoái lại nhìn thằng Tư. Một tay nó cầm ống liên hợp, một tay hất các con đỉa ra xa, rồi lại phải xốc cái máy truyền tin đeo sau lưng, lên cao trên mặt nước, để khỏi bị ướt. Trông cu cậu có vẻ nhẫn nại một cách lạ thường.

Bỗng Tùng la khẽ vừa đủ cho thằng Tư nghe:

-   Tư! mày bước chệch sang phải hơi nhiều rồi, đừng đi gần lùm cây đó! Coi chừng nguy hiểm! Đi theo phía sau lưng tao nè!

Tùngg chưa kịp dứt lời, đã có một tiếng nổ kinh hồn ngay chỗ của Tư, sức ép đẩy bạt Tùng ra xa. Một cột nước có đến hàng ngàn lít, tung cao lên trời, rồi rơi xuống suýt làm Tùng chết đuối. Anh lóp ngóp bò dậy. Thằng Tư không còn đó nữa. Anh biết ngay nó đã đạp phải loại “Đạn 105 ly gài” của Việt cộng. Anh định thần nhìn kỹ, cặp giò thằng Tư vắt ngang trên cành cây. Anh nhìn quanh tìm xác nó, và kia… một cái đầu với mớ tóc lòa xòa, nổi bập bều trên mặt nước. Thằng Tư nhờ mặc áo giáp, đội nón sắt, nên chỉ mất có phần dưới. Nếu không chắc xương thịt nó không còn lại là bao! Cái nón sắt cũng văng đi, chìm mất. Tùng ôm lấy xác nó khác như một đưa con nít…

… Xác thằng Tư đã được Trực thăng đem về “nhà quàng” của Tỉnh từ mấy hôm nay, để nơi đây khâm liệm và đưa quan tài của nó về quê ở Ba xuyên. Còn cô bán ổi, chỉ là vợ bé mới đầu hôm sớm mai, không dám theo xác nó ra Tỉnh, vì sợ gặp vợ lớn sanh phiền phức. Lại nữa, cô cũng không có bà con thân nhân gì ở đó cả, tiền bạc cũng không, đành chỉ quấn miếng vải mùng làm khăn tang, khhóc đưa tiễn xác nó lúc khiêng lên Trực thăng mà thôi. Cô xin ở lại Đồn vài bữa, chờ kỳ phát lương tới, để đòi một ít nợ do vợ con binh sĩ còn thiếu, rồi sẽ chèo xuồng về quê gần đó.

Tùng phần vì thương nhớ thằng Tư, phần vì phải làm việc gấp đôi, nên đâm ra bệnh. Vợ nó vẫn đem cháo cho anh đều đều. Tùng nghĩ, dầu sao thì nó cũng là vợ thằng Tư. Chồng nó mới chết có ba hôm, mà mình không cho nó ngủ trong hầm Truyền tin thì cũng ngặt. Vả lại, chỉ còn có bốn hôm nữa, là đến kỳ trên Tỉnh xuống phát lương, đồng thời cũng gởi chuyên viên truyền tin xuống thế thằng Tư. Chừng đó, nó muốn không đi cũng không được. Chỉ sợ là phát lương trễ cả tuần hay mươi ngày, như nhiều lần trước đã từng xảy ra, thì mới kẹt. Trai đơn gái chiếc ở trong cái hầm chật ních, và kín mít như bưng; mình có trong sạch cỡ nào đi nữa, cũng không thoát khỏi những cái miệng “tào lao” của vợ con binh sĩ ở chung quanh. Còn kiếm cái hầm khác, cho vợ thằng Tư ở tạm thì không có. Bởi vì đời lính đóng đồn, theo kiểu hình tam giác như ổ kén này; mỗi căn hầm nhỏ xíu, là cả một gia đình của người lính chui rúc vào đó. Tóm lại, nếu muốn cho vợ thằng Tư không ở tạm trong hầm Truyền tin, thì phải đào hầm khác cho nó ở, chứ không có cách nào khác. Thôi đành vậy chớk biết sao hơn! Tùng trằn trọc suy nghĩ như thế khá lâu, thiếp đi lúc nào không biết.

Tiếng ông trung sĩ đốc canh gọi đổi phiên gác khá to, làm Tùng thức giấc. Lúc ấy khoảng ba giờ sáng. Phòng bên vẫn còn ánh đèn. Chiếc drap đã được tháo gỡ ra từ hồi nào mà anh không hay. Qua tấm phên, mà mấy tháng trước thằng Tư kết vội bằng lá buông, nay cũng đã bị sút và rách lổ chổ nhiều nơi, Tùng thấy vợ Tư còn ngồi trong mùng hình như đang khâu vá hay đốt muỗi gì đó. Nghe tiếng động, cô ta quay về phía Tùng, rồi khẽ mỉm cười. Qua ánh đèn mờ ảo, bỗng Tùng không còn thấy đó là vợ thằng Tư nữa, mà là cô hàng ổi thuở nào.

Cô hàng ổi, cứ tạm gọi như vậy, nhìn Tùng như thách thức, như đợi chờ. Đôi môi hé mở có ý mời mọc. Chiếc áo bà ba với cái nút bị đứt, làm cho anh có cảm tưởng như “đã thấy hết.” Sự thèm muốn bỗng dưng lên như nước thủy triều làm anh rạo rực. Anh biết, anh chỉ rời chiếc ghế bố, bước sang là được. Vẫn đôi mắt long lanh đó. Vẫn chiếc răng khểnh đó. Và nhất là đôi cánh tay. Trời ơi! Nó thon dài, và mềm mại như hai cái vòi con bạch tuột. Khi xiết chặt sẽ làm ngạt thở kẻ đa tình. Thà chết nghẹt thở như vậy còn hơn đạp trái đạn 105 ly! Ngọn nến bên kia chập chờn như kích thích, như thúc giục.

Tùng nuốt nước miếng, vén mùng ngồi dậy. Hai chân anh quơ quơ tìm dép.

“Tùng! Mày sắp làm chuyện bỉ ổi nhất trần gian!”

“Có gì mà bỉ ổi? Tôi không muốn là người hùng. Tôi chỉ tầm thường như trăm ngàn kẻ khác.”

“Mày đền ơn cứu tử của thằng Tư như vậy đó a?”

“?!”

“Mày loạn luân. Thằng Tư là em mày. Đừng làm vậy!”

“Em bao giờ? Tôi mới quen nó đây.”

“Mày sẽ lãnh đủ hậu quả mày gây ra!”

“Tôi không sợ! Lính tráng sống chết khôn lường. Tôi có quyền thụ hưởng.”

“Mày là kẻ trộm tình!”

“Thì đã chết ai chưa?”

Tùng đứng dậy. Bỗng lúc ấy nhiều tiếng nổ liên tiếp làm vang rền đêm tịch mịch. Cây đèn cầy phòng bên phụt tắt. Các binh sĩ ngoài vọng gác bắn “ra phan” báo động, rồi la to:

-   Pháo kích! Pháo kích!

Tùng phóng lại máy Truyền tin, liên lạc cùng các Trung đội. Anh được biết tất cả đều vô sự. Các trái đạn đều rơi ngoài hàng rào. Anh đội nón sắt, mặc áo giáp, chạy ra ngoài kiểm soát phòng thủ. Anh hài lòng vì các binh sĩ đều bình tĩnh, và ở trong thế sẵn sàng phản công. Anh ngước mắt nhìn lên trời, tìm vì sao sáng nhất, lẩm bẩm:

-   Lạy Mẹ Maria! Cảm ơn Mẹ đã cứu con khỏi rơi xuống vực thẳm của tội lỗi.

Rồi anh chợt nhớ đến Má anh! Đơn xin phép về thăm bà bị bịnh, đã gởi lên Tỉnh hơn một tuần rồi, mà chưa có tin tức gì cả. Tụi lỏi, em anh, chắc đã lớn nhiều!

Nghĩ đoạn, anh leo lên chòi gác cao nhất, nơi cũng có để cái máy Truyền tin PRC.25. Nhờ nó ở vị trí này, nên sự liên lạc giữa đồn anh và Xã Z gần nhất, rõ hơn là cái máy ở dưới hầm. Anh báo cáo tình hình Đồn bị pháo kích nhưng vô sự, nhờ Xã Z chuyển tiếp về Quận. Liên lạc xong, anh ngồi lại nói chuyện với người lính gác, để cố tình chờ sáng.

Lát sau, có tin từ Xã Z thông báo cho anh:

-   Mười giờ sáng nay, Trực thăng sẽ chở người phát lương đến, có cả nhân viên Truyền tin mới, và Trung Úy L... đến tạm thay thế, để anh theo phi cơ về Tỉnh nhận lãnh giấy phép trong ngày.

Tùng thở phào nhẹ nhõm, anh chép miệng như nói để mình nghe:

-   Bây giờ, Tư ơi tao hết lo mang lỗi với mày!

 

Comments