Creation Yersinienne:‎ > ‎Articles‎ > ‎

Những niềm đau khó tả

posted Feb 4, 2015, 10:47 AM by Andy Nguyen

                                                   Những niềm đau khó tả

                                                                                                                                 Kim Mai

Tôi viết văn không giỏi. Còn nhớ khi xưa, mỗi lần bài luận của tôi được thầy chấm 10/20 là tôi mừng rơn. Tôi te te mang về khoe Mẹ, coi như đã lập một  thành tích đáng kể. Bà xoa đầu tôi khen: Con trai của Mẹ viết  hay quá!

Còn đa số các bài luận khác thường dưới trung bình..  7/20 hoặc 8/20. Theo lối chấm điểm bây giờ là –C hay +D? Có thể E không chừng. Tôi cũng chẳng biết nữa.. Đại khái như vậy.

Thầy dạy Việt Văn tôi khi gặp một bài luận hay nào đó, vui ra mặt và thường đọc rổn rảng  cho cả lớp nghe. Đã bao lần tôi thầm mơ ước một ngày đẹp trời nào đó bài  tôi viết được hân hạnh ông để mắt xanh tới. Chẳng phải vì tôi háo danh mà vì tôi muốn..”lấy le “ với cô bạn bé nhỏ cùng lớp mà tôi có rất nhiều cảm tình. Than ôi, đó chỉ là cái mộng mà tôi chưa bao giờ thực hiện được.

Tôi vào đề hơi dài, xin bạn đọc kiên nhẫn vì như tôi viết ở trên, nỗi đau khó tả nên đôi khi phải dài dòng. Nếu tôi vắn tắt thì e không thổ lộ được hết “ bầu tâm sự ”. Và nỗi đau còn đó. Chúng sẽ dai dẳng theo tôi cho đến bao giờ ??? Nếu được bạn đọc chia sẻ thì tôi nghĩ sẽ …bớt đi.

30 tháng tư năm 1975 là ngày người Viêt Nam- Bắc cũng như Nam- không bao giờ quên. Và ngay ông đại sứ Mỹ  tên Graham Martin không phải là người Việt cũng cũng quên không nổi. Quên làm sao được? Hôm đó, ông trèo lên sân thượng, và không theo bất cứ một nghi thức ngoại giao nào, ông  kéo vội lá cờ hiệp chủng quốc  xuống, nhét đại vào cái sac, đeo lên vai rồi nhẩy phóc lên trực thăng bay một mạch ra đệ thất hạm đội đang bỏ neo ngoài khơi. Ông mà chậm chân, chúng vồ được thì vỡ nợ. Chúng sẽ không dám giết ông, sẽ không gửi ông đi trại cải tạo, và có lẽ cũng không bắt ông viết bản tự khai (!)  nhưng vô số phiền phức sẽ chờ ông. Tổng thống Ford sẽ điện thoại cho Henry Kissinger-cái thằng cha mũi khoằm, đeo kính cận, gốc Do Thái- chắc đọc giả còn nhớ- tức tốc bay đi Bắc Kinh, năn nỉ Trung Cộng ra lệnh cho đàn em Hà Nội thả ông ra. Sau cùng thì ông cũng sẽ được trở về Mỹ, tơi tả như chiếc mền rách, tóc bạc phơ…. Đoạn này người viết tưởng tượng nhưng chắc không xa sự thật lắm đâu.

Còn  lá cờ hiệp chủng quốc, đã từng bay phất phới tại Saigon suốt bao nhiêu năm trường trên nóc toà đại sứ Mỹ, không biết Tòa Bạch Ốc có giữ lại làm..” kỷ niệm, “ dù là kỷ niệm đau thương??

Cũng ngày này, quân Bắc Viêt lái xe tăng làm sập cánh cửa sắt Dinh Độc Lập, chấm dứt nền Đệ Nhị Cộng Hoà. Một quân đội hùng mạnh nhất Đông Nam Á tan tác như bọt bèo không đầy 50 ngày..( 10-3-75 cho tới 30- 4-75). Hơn một triệu quân nhân các cấp, công chức, cán bộ xếp hàng  ngoan ngoãn đi học tập. Nói học tập cho ..văn hoa chứ thật ra đi… tù. Tất cả chỉ vì bị đồng minh quý mến bỏ rơi, không thương tiếc, không hối hận.

Quân Bắc Việt tràn ngập miền Nam. Người Saigon chạy ra nhận họ và người Bắc… nhận hàng. Quân chiến thắng tha hồ vơ vét. Nghe nói khi vào bộ Giáo Dục, chúng lấy từ cục tẩy, cái bút  chì, bút Bic đến cái thước, xấp giấy trắng. Lấy tuốt luốt. Chúng không tha một cái gì. Vì cái gì chúng cũng thiếu.  Radio, cassette, đồng hồ hai cửa sổ, quạt máy, xe đạp, xe gắn máy( Honda, Suzuki v v) thì chúng mê lắm. Chúng chất đầy lên xe camion, chở về Bắc. Các cán bộ thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tuy bất bình nhưng ở trong thế yếu đành im lặng đưa mắt nhìn.

Bộ đội Việt Cộng mặt mày xanh mét vì thiếu ăn. Chúng  ngơ ngơ ngáo ngáo như Mán rừng về tỉnh. Người Saigon thân tặng chúng danh hiệu: cán ngố.

Đám cán ngố thấy gì cũng lạ mắt. Đường phố rộng rãi. Nhà cửa ngăn nắp, sạch sẽ. Cây cối thẳng băng. Các cao ốc trên đường Nguyễn Huệ, chúng nhìn hoài không chán. Có một chuyện cười ra nước mắt: ba lính bộ đội khoác tay nhau đi chơi. Chúng không dám đi chơi lẻ, sợ bị sơi tái. Thấy một người đàn ông lớn tuổi đúng một chỗ, ngẩng mặt lên trời khá lâu. Chúng cũng nhìn lên: chẳng thấy gì. Ba bốn bộ đội khác tò mò cũng ngẩng mặt nhìn theo. Không có gì lạ. Rồi vài tên nữa. Sau cùng chúng hỏi người đàn ông lớn tuổi:

-Ông nhìn cái gì vậy ?

-Ơ hơ! Kỳ chưa ? Tôi có nhìn gì đâu? Tôi bị chảy máu cam !

 

 

……Các văn sĩ, nghệ sĩ, các phóng viên nhà báo, các nhạc sĩ  v v nói tóm lại giới viết lách miền Bắc ( lách nhiều hơn viết!!) rất ngạc nhiên thấy người Nam dùng hai chữ: Nâng bi và bồi bút. Họ phàn nàn: những cụm từ này “ Rất khó nghe” và không hiểu gì..

Người viết xin được làm sáng tỏ :

Trước hết : Nâng bi. ( lưu ý nữ đọc giả: đoạn văn sau đây hơi tục tĩu. )

Cứ tưởng tượng một người ăn mặc đàng hoàng, quỳ một chân, lưng hơi cúi xuống, đầu nghiêng nhẹ về một bên, tay trái buông thõng, tay phải nắm lại, hay ngón tay - ngón trỏ và ngón giữa thành chữ V- đưa ra. Mắt anh ta nhìn thẳng, môi hơi mím, tuyệt đối không được cười để tỏ vẻ nghiêm túc. Anh nhè nhẹ nâng hai hòn bi của người mà anh muốn kiếm điểm.

Hành động này, tôi không biết nó làm người đối diện sảng khoái, thú vị đến mức nào chứ riêng tôi, tôi thấy quá nhột. Hai hòn bi, Trời sinh ra, nặng nề gì mà phải nâng ? Cứ để nguyên như vậy đã chết ai?

Tôi xin thề là tôi chưa nâng bi ai. Và cũng chẳng ai nâng bi tôi.  Để chứng minh điều này, tôi xin đôi dòng nói qua về tôi. (Cái tôi đáng ghét: le moi est haissable !!!).

Sau khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi cầm sự vụ lệnh về trình diện tiểu khu Chương thiện. Thú thật mà nói, tôi không mấy “ hăng say ” (1) vì nơi đây đang có những cuộc giao tranh rất ác liệt. Xin bạn đọc thông cảm: Chẳng phải tôi nhát gan mà vì … hay ho gì chuyện đánh đấm !!!

Phòng Một tiểu khu gửi tôi về…giữ đồn Chà Là. Và chức vụ mới nhất của tôi là..Trưởng Đồn. Đồn này nằm giữa U Minh Thượng, sát với ranh giới tỉnh cà Mâu. Trước đồn là con sông nhỏ, không có tên. Chắc là một chi nhánh của sông Cửu Long. Quý vị có thể mở bản đồ vùng IV ra để kiểm chứng.

 Năm thì mười hoạ mới có một ghe hàng đi ngang để bán đủ thứ: gạo, nước mắm, mì gói, thực phẩm khô,aspirine,thuốc lá  v v.Cũng có thể họ bán tờ báo…ba bốn tuần trước! Mua thì mua. Không mua thì thôi! Không có đường bộ nên vắng bóng xe đò. Chung quang đồn toàn là rừng chàm, nưóc phèn ngập trên mắt cá. Đôi khi chán nản, tôi ngước mắt nhìn trời: trời quen. Nhìn xuống đất: đất lạ. Y chang bài hát “ Kẻ ở miền xa”:  của Trúc Phương mà Duy Khánh vẫn nghêu ngao hát trên radio: Trời quen đất lạ, Nhiều đông lắm hạ nối tiếp đi qua. Thiếu bóng đàn bà !!

Rừng chàm và…du kích. Chàm mọc san sát. Du kích nhiều ,lúc ẩn lúc hiện, như ma chơi. Toàn những thứ tôi…không thích.

Quân số trong đồn, cả lính lẫn quan, được năm mươi người. Vợ con lính không kể. Lúc hữu sự  50 tay súng này sẽ quyết tử bảo vệ đồn. Chúng tôi phải hiểu là chúng tôi đang sống trong cái rọ vì gần như bị cô lập. Không khéo là toi mạng. Một phát súng bắn sẻ của địch là nhẩy lên bàn thờ ngồi ngắm gà cởi truồng. Phải tự lực mưu sinh. Không trông chờ vào ai. Nếu chúng tôi bị tấn công, Tiểu khu sẽ gửi quân tiếp viện, lẽ dĩ nhiên, nhưng chỉ đến để …nhặt xác mà thôi. Hẻo lánh quá mà !! Quan lớn quan bé chẳng có ma nào tới thăm. Họ cũng có lý của họ. Đến nơi khỉ ho cò gáy này thì ăn cái dải rút gì?

Do đó, tôi không nâng bi ai. Và cũng chẳng ai nâng bi tôi. Phẻ re !!

Sang Mỹ, tôi làm trong phòng khảo cứu ( research lab). Một mình một lab. Công ty dược phẩm tôi làm khá nổi tiếng: The Upjohn Company với thuốc Lincocin, Solu-cortef,Depo-provera. v v. Hãng này về sau sát nhập với Pfizer và Pfizer trở thành hãng thuốc lớn nhất thế giới. Nó lớn thì tôi nói lớn. Tin hay không, tùy. Khoác lác và nịnh bợ chắc chắn không có tôi.

 Tôi rất mê công việc: cả ngày cặm cụi pha chế thuốc, theo đúng procedure. Chiều về bỏ thuốc lên máy, cho chạy suốt đêm.. Sáng hôm sau vào sớm coi kết quả. Cũng hồi hộp lắm.

 Đi sớm về trễ, mê mẩn công việc đúng là tôi chẳng giống ai. Vợ tôi dễ tính, không phiền hà gì.

Nói tóm lại ở Việt Nam cũng như ở Mỹ, tôi chẳng nâng bất cứ một kẻ nào. Và quý đọc giả chắc đã hiểu: nâng bi là nịnh bợ.

Còn bồi bút ?? Boy, tiếng Anh là con trai. Cowboy là những người coi bò. Nếu là con gái người ta gọi là cow girl. Nhưng khi sang Việt Nam thì chữ boy đổi nghĩa. Cao bồi tương đương với du đãng, côn đồ. Làm bồi có nghĩa là hầu hạ. Ta có câu: bồi bếp. Người làm việc trong tiệm ăn gọi là bồi.

Bồi bút là..hầu hạ, nịnh bợ bằng ngòi bút. Sau đây là niềm đau thứ nhất của tôi.

Nhà thơ Tố Hữu tên thật là Nguyễn kim Thành, sanh ngày 4 tháng 10 năm 1920. Đây là theo internet. Còn ngày sinh thật của ông, chỉ có Trời biết. Hay bà mẹ ruột ông biết, nếu bà còn sống. Người Cộng Sản vẫn nổi tiếng là trí trá, gian dối. Khó tin lắm.

Công bằng mà nói, thơ Tố Hữu rất hay. Nhưng chỉ lúc đầu. Về sau không biết có phải vì lệnh Đảng quá khắt khe hay vì lớn tuổi, ông trở thành lú lẫn. Ông đề cao Xít-ta-lin quá mức. Ông viết

                                                        Yêu cách mấy khi nghe con tập nói:

                                                          Tiếng đầu lòng con gọi Xit-ta-lin

Trời đất, Chúa Phật ơi !!! Có thể như vậy được chăng ? Đứa con khi mới tập nói bao giờ cũng bập bẹ: Ba má.Tiếng tây thì gọi papa, maman. Tiếng Mỹ thì gọi Mom, Dad. Đằng này chú bé của Tố Hữu chơi ngay chữ Xit-ta-Lin. Ai mà tin cho được ??  Tôi có thể khẳng định rằng Tố Hữu đi quá xa. Tôi dám lấy sanh mạng tôi để cá cược rằng nhà thơ này đã khoác lác một cách vô tôi vạ. Trong lịch sử loài người, bất cứ dưới thời đại nào, bất cứ ở đâu trên trái đất này, không một đứa trẻ nào lại nói câu đầu tiên : Xít-ta-lin. Xít-ta-lin là thằng cha căng chú kiết nào ?? Ông ta ở đâu? Có bế bé bao giờ chưa mà nó phải nói:Xit-ta-lin? Và Tố Hữu có biết trên thực tế Xít-ta-lin là tên đồ tể đã giết hại hàng triệu người? Bên Nga Sô, các tượng Xit-ta-lin đã bị đốn ngã.

Thế rồi khi được tin tên đồ tể này về bên kia thế giới, Tố Hữu khóc rống lên:

                                         Làng trên xóm dưới xôn xao

                                      … Làm sao,  ông đã làm sao mất rồi?

                                       Ông Xít-ta-lin hỡi, ông Xít-ta-lin ơi

                                      Hỏi ông, ông mất, đất trời có không?

                                     Thương cha, thương mẹ, thương chồng

                            Thương mình thương một, thương ông, thương mười !!

Người người đều tự hỏi: khi được tin bố ruột mình chết, liệu Tố Hữu chết, có  khóc não nề được như vậy không ? Câu trả lời: đương nhiên là không. Tài nịnh bợ và dối trá của ông làm các đọc giả  đỏ mặt vì xấu hổ. Chỉ có những người da mặt dày như da trâu, những kẻ kém hiểu biết, những kẻ vô học mới dửng dưng.

Tiện đây cũng xin nhắn nhủ quý vị lãnh đạo đất nước (Ông Tổng Bí Thư đảng, Ông Chủ Tịch Nhà Nước, ông Chủ Tịch Quốc Hội): Cai trị là tiên liệu. Các ông  Vladimir Putin,( Nga Sô), Tập Cận Bình ( Trung Công) , anh em Raul & Fidel Castro( Cuba), Kim jong Un( Băc triều Tiên) là những nhân vật Công Sản rất nổi tiếng. Họ già cũng có, trẻ cũng có. Sống chết bất thường nên họ có thể quay đơ ra chết vì … trúng gió. Hay lý do nào khác. Rồi tại quê nhà lại có bài thơ khóc họ như Tố Hữu đã từng khóc Xít-ta-lin? Để tránh cảnh dở khóc dở cười này, xin quý ra ngay thông cáo: Tuyệt đố cấm không được tâng bốc quá mức. Tên văn nô bồi bút nào vi phạm sẽ bị…thiến.

Xong. Tôi cam đoan sẽ êm ru bà rù.

…..Một hôm Lê Duẫn có công việc phải công du nước Nga. Ông mang theo Tố Hữu để khoe một nhà thơ thiên tài. Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Nga hồi đó là ông Mikhail Gorbachev. Trong buổi tiếp tân, Ông Gorbachev tươi cười đón chào mọi người. Tố Hữu chắc mẩm mình sẽ là cái đinh của buổi tiệc nhờ bài thơ rất nổi tiếng khóc Xít-ta-lin. Ông sẽ tả oán là đã phải thức trắng nhiều đêm, tốn bao công lao, xuống mấy kí lô mới hoàn tất đưọc bài thơ để đời này.

Sau khi bắt tay xong, Gorbachev tươi cười hỏi nhà thơ:

-Ông đã gặp Xít-ta-lin lần nào chưa ?

-Dạ chưa.

Nụ cười tắt ngủm trên môi Gorbachev. Ông ta thản nhiên quay sang nói chuyện với những người khác. Và tuyệt nhiên không thèm nhìn nhà thơ của chúng ta lần thú hai. Phải hiểu ngầm ông chửi trong bụng;

….Mẹ !! Chưa gặp mặt mà đã bày đặt bốc thơm tùm lum. Đồ vô liêm sỉ...(2)

Khỏi nói cũng biết mặt Tố Hữu tái đi. Ông hụt hẫng. Ông thấy mình vô duyên.  Ông chẳng là cái thớ gì. Đúng là công dã tràng. Và ông cảm thấy mình nhỏ bé lại

Gorbachev  đã cố tình hỏi đểu vì ông biết rõ nhà thơ bồi bút này chưa bao giờ gặp Xit-ta-lin

Tôi không bà con thân thích gì với Ông Nguyễn Kim Thanh Tố Hữu. Cũng chẳng dây mơ rễ má  xa gần gì với ông. Nhưng ông bị cú đau quá. Và tôi cũng là người Việt nên bị đau lây

Bây giờ đến nỗi đau khác. Nỗi đau này do Cao Kỳ (nhông)  gây ra.  Xin nói ngay chuyện Cao Kỳ(nhông) dài lắm, không thua gì chuyện Nhân Dân Tự Vệ khi xưa. Tôi không đủ can đảm viết hết. Và quý vị đọc giả cũng chẳng có thì giờ đọc. Vậy tôi xin tóm tắt tối đa.

Kỳ có bằng CEPCI, viết tắt của chữ Certificat d’Études Primaires Complémentaires  Indochinoises. Lên trung học, học thêm hai ba năm gì đó cùng với ông anh họ tôi, tên Hà Mai T.

 Tiếng Pháp hai người viết và nói khá rành nên khi rủ nhau đi đăng lính cho Tây, được thâu nhận ngay . Sau một thời gian huấn luyện, cả hai được gửi sang Marrakech( Maroc- một nước thuộc địa của Pháp bên Phi Châu) để theo lớp đào tạo phi công. Lúc ra trường, họ mang lon thiếu úy. Về nước, họ được trọng dụng. Đi đâucũng kính nể vì họ..học bên Tây về(!) Mấy năm sau, hai người cùng đeo lon trung úy rồi đại úy.

Chỉ tiếc ông anh họ tôi vắn số, chưa được một năm sau thì ông bị bạo bệnh chết. Trong khi đó, Kỳ như diều gặp gió lên vùn vụt.  Hết đảo chính rồi chỉnh lý rồi lại tái đảo chính. Quay đi quay lại, Kỳ đeo sao ở cổ, trở thành Tư Lệnh Không Quân. Rồi sau cuộc Chỉnh Lý chớp nhoáng, giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, quyền hành vô biên. Chức vụ sau cùng của Kỳ là Phó Tổng Thống. Kỳ có tật mê gái. Điều này không lạ vì thằng đàn ông nào chẳng mắc tật này, trừ phi hắn ta …bất lực hay đồng tình luyến ái!! Kỳ mê một cô tiếp viên hàng không, tên Đặng Tuyết M. Cô này nguyên là một nữ sinh học trường tây trên Đalat- Lycée Yersin. Khi gần ra trường, thấy Hàng Không Việt Nam tuyển nữ tiếp viên( hotesse de l’air), cô nộp đơn thử thời vận vì thi vào cũng gian nan lắm. Nhờ thông thạo Pháp văn lại có sắc đẹp hơn người, cô trúng tuyển. Cô đành bỏ học để trở thành tiếp viên hàng không. Vừa mói thấy cô, Kỳ tá hỏa.. Kỳ bị tiếng sét ái tình phạng ngang tai!!. Anh ta quyết tâm chiếm tim người đẹp. Thấy cô ở khách sạn, anh giả làm bồi bàn mang thưc ăn sáng cho cô. Khi biết được sự thật,cô tiếp viên hàng không cảm đông lắm. Gái mới lớn mà !!!

 Như đã nói ở trên, khi mê gái, đàn ông có những hành động  “không giống ai “. Giả làm bồi bàn, chấp nhận được. Nhưng khi Kỳ lấy trực thăng, chở cô bồ lên tít trên trời cao để uống nước trà, ăn bánh Trung Thu và ngắm trăng thì rõ ràng Kỳ đi đã quá xa. Người ta gọi hành động này là ngông cuồng. Thật ra, nói VÔ TRÁCH NHIỆM, NGU XUẨN đúng hơn. Nếu ở bên Mỹ, Kỳ sẽ phải ra toà, mang tội lạm dụng quyền thế và phá hoại công quỹ. Tội này phải vào tù đếm cả chục cuốn lịch.

Kỳ có biết chăng tiền máy bay trực thăng Kỳ đang lái với tiền săng nhớt là do tiên thuế của dân Mỹ đóng góp. Lấy tiền người khác để bao gái, người có chút liêm sỉ không bao giờ làm. Có lần Kỳ đi công tác về thì máy bay cô bạn gái mới cất cánh. Kỳ tức tốc lấy phản lực đuổi theo để nhìn thấy người đẹp. Hành khách trên Air Viêt Nam hoảng hốt, năn nỉ cô ra cửa sổ cho Kỳ nhìn tí diện cho đỡ nhớ nếu không cơn điên hắn nổi lên, hai máy bay đụng nhau, chết cả lũ. Lần này phải dùng tĩnh từ ĐẠI NGU mới chính xác !!

Trước năm 75, Kỳ rất khoái trá với biệt danh Tướng râu kẽm. Biệt danh này do quân nhân thuộc hạ thân tặng với ít nhiều khâm phục, vì đã có lần Kỳ hướng dẫn một phi đoàn bay ra Hà Nội bỏ bom. Ta phải hiểu Kỳ chống Cộng tối đa. Nhưng khi sang Mỹ, biệt danh này đổi thành “Kỳ nhông “ vì Kỳ đã đổi hướng, theo Việt Cộng. Kỳ trở về Việt Nam để o bế Việt Cộng. Con kỳ nhông hay đổi màu da cùng với màu sắc lá cây để dễ trốn tránh. Kỳ đổi hướng đi để cố tìm chút hão danh còn sót lại. Đúng là nhổ rồi lại liếm.

 Mới đầu Hà Nội có đón tiếp Kỳ khá trọng thể để che mắt thiên hạ. Đây chỉ là trò bịp bợm, để chứng tỏ với mọi người  “ chúng tôi đang hoà giải, hoà hiệp với tất cả các tầng lớp. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chúng phế bỏ Kỳ như chiếc chiếc xe cũ bị quăng vào nghĩa địa xe.

Kỳ mướn người viết hồi ký vì sức học của Kỳ có là bao! Kỳ tự nhận mình là đứa con cầu tự. Và tên siêu bồi bút nào đó dịch sang tiếng pháp là: le fils du Bouddha !! Con của Phật !!! Hết nước nói. Kiêu ngạo đến cùng cực !!!

 Ở bên Pháp, một hôm, nhà báo nọ hỏi tướng De Gaulle:  

Ngài nghĩ gì về Kỳ ?( Que pensez-vous de Ky?)

De Gaulle hỏi lại:

Kỳ là ai? (Ky, qui est-il?)

Người viết đã dịch một cách lịch sự: Kỳ là ai? Thật ra phải nói ” Kỳ là thằng Đ.. nào”? mới đúng.

De Gaulle thâm độc lắm. Ông vẫn thường nói: Bị chửi rủa đôi khi còn dễ chịu hơn là bị làm lơ.(3).Nay ông có dịp áp dụng lý thuyết của ông. Ông còn lạ gì Kỳ nhưng ông giả đò không biết. Hỏi như vậy tức ông chửi cha Kỳ. Câu hỏi của ông là một chưởng thật ác độc làm Kỳ đau quằn quại, rên siết.

Từ tư dinh tại Tân Sân Nhứt, Kỳ gầm lên:

Kỳ là một tưóng trẻ hơn De Gaule!! Kỳ có vợ đẹp hơn vợ de Gaulle. Kỳ biết làm thơ (!!!) tán vợ..

Vô ích. Những tiếng la hét đó, chẳng ai thèm nghe. Y hệt tiếng la ngoài sa mạc. Không một tiếng vang. Thế giới coi thường Kỳ. Công tâm mà nói, Kỳ chỉ là một tên hề vô duyên, không hơn không kém

Đến đây, tôi xin chép lại câu tôi viết ở đoạn trên: Tôi không bà con thân thích gì với Ông Nguyễn cao Kỳ Nhông. Cũng chẳng dây mơ rễ má xa gần gì với ông. Nhưng ông bị cú đau quá. Và tôi cũng là người Việt nên bị đau lây.

Đó là chuyện cũ. Mới đây, báo chí Nhật làm rùm beng về vụ Cảnh sát phi trường Narita bắt quả tang một phi công và mấy cô tiếp viên Việt Nam buôn lậu. Chuyện chưa ngã ngũ ra sao thì cảnh sát Nhật lại quay video được khách hàng cũng Việt Nam ăn cắp đồ trong siêu thị. Họa vô đơn chí. Toàn những tin tôi không muốn nghe. Sau khi điều tra, người ta được biết các phi công mua đồ độc theo lệnh của xếp lớn. Còn các cô tiếp viên?

Chúng em phải bỏ ra một số tiền khá nhiều để xin được công việc này. Tiền hối lộ ấy mà. Chúng em không có tiền nên phải đi vay. Nay tìm cách kiếm thêm để trả nợ. Đồng lương chỉ đủ ăn. Trả nợ không đúng hẹn, chúng siết nhà, siết xe và đôi khi tính mạng còn bị đe dọa. Xã hội đen ghê lắm.

Nghe lời khai mà muốn bật khóc. Thì ra vậy. Rốt cuộc chỉ có mấy ông lớn là béo bở. Lỗi tại ai?

Trên ăn bẩn dưới cũng ăn bẩn. Chúng ta cùng ăn bẩn. Trên bảo, dưới .. điếu nghe. Cái vòng luẩn quẩn, không có lối thoát. Những người có lòng với đất nước lạng quạng bị nhốt vào tù. Các bloggers , các nhà báo chân chính bị canh chừng như có án treo.

Những siêu thị bị người Việt ăn cắp có treo bảng : “Tuyệt đối không được ăn cắp” !! và “ Ăn cắp xấu lắm.” Các bảng này VIẾT BẰNG TIẾNG VIỆT. Tôi được đọc trên internet. Mắt tôi mờ đi. Người tôi run lên. Trời cao đất dày ơi, còn nỗi dau nào hơn?? Tôi đau vì tôi là người Việt

Hè này chúng tôi định đi Nhật chơi. Thật ra chúng tôi chẳng giàu sang gì. Đòi sống bên Nhật rất đát đỏ. Số là chúng tôi  có một anh bạn người Nhật. Cách đây hơn 30 năm, anh học cùng lớp với bà xã tôi ở WMU. Anh thấy bà xã tôi người Á Đông lớn tuổi, lai hiền hoà nên anh coi như chị, cuối tuần thường đến chúng tôi ăn cơm. Sau bốn năm, hai người cùng ra trường. Về nước anh có một chỗ đứng khá vững và bây giờ anh có ý mời chúng tôi qua chơi. Nếu không có vụ buôn lậu của ông phi công và mấy cô tiếp viên nọ thì chúng tôi đã đi rồi. Nay chuyện vỡ lở. Tôi muốn từ chối. Nhưng anh khẩn khoản mời. Sau cùng tôi đẳt điều kiện với bà xã tôi:

Có thể chúng mình nhận lời nhưng em phải hứa tuyệt đối không cho ai biết chúng mình là người Viêt Nam, ngoai trừ anh bạn em quen từ trước. Tiếng xấu lan mạnh lắm!! Anh không muốn người ta nhìn mình với đôi mắt ngờ vực.

Đau đớn chưa ???!! Con Rồng Cháu Tiên với hơn 4000 văn hiến, ra ngoại quốc không dám để lộ tông tích minh.. Đó cũng là niềm đau khó tả.

Trước khi chấm dứt bài tôi kể một nỗi đau nữa. Ngắn thôi.

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu hẹn với Tổng thống Richard Nixon gặp nhau ỡ Midway để bàn về việc xin viện trợ,hay tiếp liệu gì đó.. Trên lý thuyết, hai máy bay sẽ tới cùng lúc để không ai phải chờ ai. Nhưng máy bay  ông Nixon cố tình trễ mấy phút làm ông Thiệu và phái đoàn tùy tùng phải chờ dài cả cổ ra. Nixon đã chơi cha.( 4) Thiệu cay lắm. Chưa hết. Trong phòng họp, người Mỹ đã sắp xếp sao đó để ghế ông Nixon cao hơn ghế ông Thiệu độ 3 , 4 centimét.  Nixon to lớn. Thiệu nhỏ bé. Bây giờ thì sự khác biết rõ như ban ngày.  Trên nói với dưới. Đàn anh đang nói chuyện với đàn em. Thiệu như con gái ngồi phải cọc, nín khe, mặt mày xám ngoét.

Lại thêm một nỗi đau ! Làm sao tả đây? Còn đâu sĩ diện quốc gia ?

  Bà xã tôi thấy tôi cứ thở vắn thở dài nên bà ấy lo lắm. Thế rồi nhân một lúc thấy tôi có vẻ cởi mở, bà ấy rủ rỉ:

Anh ạ, em thấy anh cứ bị dày vò bời các nỗi đau của người khác. Cứ cái đà này, em sợ anh sẽ “ĐI” sớm. và vô tình Anh đã biến Em thành “ goá phụ cô đơn” . Em cần anh. Anh cần Em. Chúng mình cần nhau. Chúng mình đang sống hạnh phúc.  Anh phải nghe Em. Nghe một lần thôi.

 

Tôi lo lắng:

-Ừ thì nghe. Xưa nay chẳng nghe là gì. Nhưng nghe gì đây?? Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

-Có gì đâu? vợ tôi đội đáp. Kẻ nào đội mũ lệch, người đó xấu. Ai làm gì, mặc kệ họ. Không dính líu gì đến mình. Còn riêng Anh, xin Anh hãy  “ mũ ni che tai, chuyện ai chẳng biết.”Anh sẽ tìm được bình thản cho tâm hồn.

Tôi gật gù tỏ vẻ thông cảm. Vợ tôi bề ngoài trông hiền lành, đôi khi đến ngây ngô. Nhưng bà ấy thâm thúy hơn là tôi tưởng. Có vậy mà tôi nghĩ không ra. Tôi bỗng phá lên cười:

Được rồi, mai Em ra Wal-Mart, tìm mua ngay cho anh chiếc mũ ni, vừa che tai cho khỏi lạnh vừa đỡ phải nghe chuyện thị phi. Nhất cử lưỡng tiện !!!! Hà Hà..

                                                                                                                                      Kim Mai

 

 

Ghi chú

  1. Hăng say :  Việt Cộng sẽ viết  là..hồ hỡi. Chắc có tên Bác Hồ!

  2. Phải viết như vậy mới tả đúng ý nghĩ của Gorbachev lúc bấy giờ

  3. L’insulte est parfois plus tolérable que l’indifférence. De Gaulle

  4. Tôi tạm dịch là: Nixon jouer papa. Tôi ..bực mình

Comments