Articles


Recent Articles

  • Photographie Environnementale 2018
    Posted Sep 30, 2019, 1:17 AM by Andy Nguyen
  • Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh Sáng 2019-08-16 : Nghề chơi cũng lắm công phu :Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh SángPhan Văn Song« …. Nghề chơi cũng lắm công phu,Làng chơi ta phải ...
    Posted Aug 16, 2019, 9:02 PM by Andy Nguyen
  • Chiếc Xế Một Thời Pour les yersiniens ... nostalgiques de SaïgonLes dernières années de SaïgonMarabout PVS LY612019-08-09 : Những Cuộc Tình với Xế  Hộp:  Chiếc Xế Một Thời FORD MUSTANGPhan ...
    Posted Aug 14, 2019, 11:09 PM by Andy Nguyen
  • Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê: 2019-08-02 : Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê:  Cà Phê Phan Văn Song Trời hồng hồng sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song. Cành mềm mềm ...
    Posted Aug 7, 2019, 10:56 PM by Andy Nguyen
  • Bạc Sỉu
    Posted Aug 2, 2019, 3:27 AM by Andy Nguyen
  • Chuyện tình của một cô Couventine
    Posted Jul 29, 2019, 11:03 PM by Andy Nguyen
  • Papillon 2019-07-26 : Ciné Phòng 5 C2 trại tù Cộng Sản Việt Nam T 20   Papillon Phan Văn Song Kính thưa quý thân hữu, Kính thưa quý bà con. Tại ...
    Posted Jul 27, 2019, 1:11 AM by Andy Nguyen
  • Activities for Father's Day
    Posted Jun 14, 2019, 2:49 AM by Andy Nguyen
  • Bạn bị đau xương khớp cổ vai gáy, đau lưng và đầu gối? Bạn đang tìm một bài tập thể dục giúp phòng và chữa bệnh này? Đây chính là gợi ý tuyệt vời nhất mà bạn nên thử tập ngay. Bệnh xương khớp được xem là một trong những căn bệnh phổ biến, càng ngày càng trẻ hóa với tỉ lệ người mắc bệnh tăng cao. Nhưng do các dấu ...
    Posted Nov 28, 2018, 7:57 PM by Andy Nguyen
  • Nhớ Ngày Nào - Hier Encore Aux yersiniennes , yersiniens et amies, amis,Qui a un jour aimé, chanté, ... un peu, beaucoup, passionnémentCharles Azenavour ....Regrets pour le grand Charlesou regrets pour tes vingt ans...Pleurer ...
    Posted Oct 12, 2018, 11:47 PM by Andy Nguyen
  • Cảm nhận từ đường phố Việt Nam  Nguyễn Văn Tuấn nguyên giảng sư Đại Học Y Khoa New South Wales & University of Technology, Sydney>Tôi vừa có một chuyến đi gần 1 tháng ở bên nhà. Đó ...
    Posted Sep 22, 2018, 11:20 PM by Andy Nguyen
  • The dangers of eating raw fish Raw fish, such as sushi, and other uncooked seafood may be delicious, but they also may be dangerous -- even life-threatening -- if prepared inexpertly.Case in point: A 71-year ...
    Posted Sep 5, 2018, 10:29 PM by Andy Nguyen
  • ĂN TỐI LÀ ĂN CHO KẺ THÙ Thật là đáng sợ, từ nay bữa tối không dám ham ăn  nữa! Nhất định phải chia sẻ cho những người bạn bên cạnh cùng biết. ĂN TỐI LÀ ĂN ...
    Posted Sep 5, 2018, 10:13 PM by Andy Nguyen
  • Bia Saigon ( Chuyện vui ) Bia Sài gòn  Có 1 anh chàng về VN, đi nhậu 1 mình.Vừa ngồi xuống bàn, chưa kịp kêu bia thì một cô tiếp thị bia Tiger xinh như ...
    Posted Sep 5, 2018, 10:02 PM by Andy Nguyen
  • UN NOUVEL AMOUR
    Posted Aug 28, 2018, 2:09 PM by Andy Nguyen
  • Một nhân tài Một nhân tàiNhiều khi mình phải suy nghĩ, dù chỉ là nơi thuộc địa, nhưng người Pháp đã xây dựng nên những công trình gía trị với thời gian ...
    Posted Aug 24, 2018, 7:08 PM by Andy Nguyen
  • Người Buôn Gió Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu)Đất nào sinh ra tôiMẹ hiền nào nuôi thân tôiMiền nào nuôi thân tôiMà giờ này tôi xa rồi.“Quê hương ...
    Posted Aug 21, 2018, 10:27 AM by Andy Nguyen
  • Le vélo à Dalat
    Posted Aug 20, 2018, 8:16 PM by Andy Nguyen
  • Mon arrivée à Dalat Elle a eu lieu le 03 août 1966 Coopérant militaire Je ne sais pas pourquoi certains étudiants universitairesont choisi la coopération étrangèreet quelles en furent leurs raisonsplutôt ...
    Posted Aug 20, 2018, 8:19 PM by Andy Nguyen
  • Làm sao tránh bệnh lẩn -Alzheimer Gần phân nửa số người Mỹ 85 tuổi mắc bệnh Alzheimer's, một chữ mà người Việt ở Mỹ đã quen thuộc và thường dịch là bệnh lẩn. Một số ...
    Posted Aug 17, 2018, 10:47 PM by Andy Nguyen
  • (Chuyện cảm động quá! Không biết trong tương lai mình có y bản sao như vậy hay không?) Nguyễn Thị Thêm  Cuối tháng này là sinh nhật cháu tôi. Đứa cháu trai duy nhất trong gia đình. Đứa cháu nội mà tôi thương nhất. Chẳng phải tôi thiên ...
    Posted Aug 17, 2018, 10:15 PM by Andy Nguyen
  • SÀI GÒN NGỌC NGÀ DĨ VÃNG Saigon oi, we love you forever!Sàigòn một thuở là Hòn Ngọc Viễn Ðông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á.Sau tháng tư năm 1975, lại mang một ...
    Posted Aug 16, 2018, 11:30 PM by Andy Nguyen
  • Sống Thọ ? Sống Thọ ?     Theo Giáo sư, bác sĩ Lý Thiếu Hồng, khoa Y liệu, Học viện Trung y Bắc Kinh (TQ), có một điều kỳ lạ có thể bạn chưa biết ...
    Posted Aug 16, 2018, 11:15 PM by Andy Nguyen
  • 12,000 người Việt ở Mỹ sẽ bị trục xuất Hiện tại các sắc lện của TT Trump đang làm điên đảo những người có thẻ xanh và kể cả có quốc tịch ở Mỹ. Những người tỵ nạn hay ...
    Posted Aug 16, 2018, 7:04 PM by Andy Nguyen
  • Chỉ Có Văn và Nhạc ! Chỉ có Đời Sống và Tình Yêu ! 2017-12-15 : Chỉ Còn lại Nghệ thuật : Văn và Nhạc   Chỉ Có Văn và Nhạc  ! Chỉ có Đời Sống và Tình Yêu  ! Cám Ơn - Merci  Jean d’O & Johnny ...
    Posted Aug 14, 2018, 7:51 PM by Andy Nguyen
Showing posts 1 - 25 of 148. View more »

Photographie Environnementale 2018

posted Sep 30, 2019, 1:17 AM by Andy Nguyen


Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh Sáng

posted Aug 16, 2019, 9:00 PM by Andy Nguyen   [ updated Aug 16, 2019, 9:02 PM ]


2019-08-16 : Nghề chơi cũng lắm công phu :
Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh Sáng

Phan Văn Song


« …. Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều ... » Nguyễn Du. Kim Vân Kiều (câu 1202- 1203)
 
     - « Với Claude Monet, nước cũng cả là một sự sống động, có chiều sâu và là sự thật ! Nước, rung chuyển, xoáy thành giòng, rung động, nhịp nhàng quanh những chiếc thuyền con, bập bềnh cùng với những bụi lục bình xanh đầy hoa trắng. Nước chuyển mình, trãi dài thành những ao con gợn sóng dưới ngọn gió chiều. Nước kéo dài, bẻ gảy những cột bườm đang soi bóng, hòa trộn vào ánh sáng tò mò, len lỏi, soi rực những giọt nước đục ngầu – Chez Claude Monet, l’eau est vivante, profonde, vraie surtout. Elle clapote autour des barques avec des petits îlots verdâtres coupés de lueurs blanches. Elle s’étend en mares glauques qu’un souffle fait subitement frissonner, elle allonge les mâts qu’elle reflète en brisant leur image, elle a des teintes blafardes et ternes qui s’illuminent de clartés aigües »
Émile Zola 1868. PVS dịch thoát

Claude M.jpg


Thằng con Cả  của gia đình tôi, Cyril « Kongo » Phan, họa sĩ Đường Phố - Graffiti, được giới nghệ sĩ quốc tế gọi là Mister Colorful, Ông Mầu Sắc, vì hắn « chơi » mầu sắc rất độc đáo và đặc biệt, thường, thỉnh thoảng khi cha con gặp nhau, để gạt bỏ ngoài tai, những chuyện làm ăn hay thị phi ồn ào, để cần cha con thoải mái nói chuyện gia đình, riêng tư, tình tự, thường rủ tôi đi thăm Vườn Giverny, nơi có Museum Claude Monet. 
Giverny, xa Paris khoảng 75 cây số, trên một giờ lái xe, nơi xưa kia là tư thất của họa sĩ Claude Monet, nhưng nay là nhà triễn lãm thường trực của tất cả công trình nghệ thuật của danh họa Claude Monet, người cha đẻ của trường phái hội họa Ấn Tượng – Impressionnisme ! Con tôi rất mê Monet, vì ông là họa sĩ của Ánh Sáng ! Ông là ông thầy của cách chơi Ánh Sáng !
Ông có thể vẽ, chỉ một cảnh, chỉ một chủ đề, chỉ một góc độ nhìn, nhiều tranh khác nhau, với nhiều thời khắc khác nhau, với nhiều ánh sánh khác nhau, sáng trưa chiều, rạng đông, chạng vạng, hoàng hôn… Chỉ một cảnh vật, nhưng họa thành nhiều tranh với nhiều ánh sáng khác nhau … Thật đúng là triết lý của cuộc đời, cũng một con người … thời gian khác nhau, cái nhìn khác nhau, những con người khác nhau ! Bài học nghệ sĩ, bài học đời !
Đến Giverny, viếng mãnh vườn thật của ngày nay, xong, nhìn cũng mãnh vườn ấy qua những tranh đã được vẽ cách đây, trăm năm có lẽ, … cảnh tranh, cảnh thật… Hai cha con tôi, tuổi đời, cách nhau một phần tư thế kỷ ! Con tôi ngày nay, thằng tôi ngày xưa ! Tình tự về hội họa, tình tự chuyện đời như hai người bạn, hắn là tôi, tuổi trẻ, tôi là hắn tuổi già ? Một ngày thoải mái, một thoáng vô tư, thằng Cả tôi rửa cái đầu, quên công việc, hưởng cái đẹp, và tôi, tôi tìm lại thằng con thân yêu, không còn thằng nghệ sĩ bận bịu với nghề, với khách hàng, với cái hằng ngày … Một khoản khắc gia đình quý giá !
 
Quý bà con thân, quý thân hữu quý,
   Nếu có dịp, quý vị qua Pháp du lịch ! Nếu có dịp, quý vị lên Paris du lịch ! Hãy bỏ tý thời gian đi thăm Giverny ! Nếu quý vị không thích hội họa, quý vị sẽ thưởng thức mãnh vườn (rất á đông), vì mãnh vườn cũng được Monet, tạo để giúp công trình hội họa của Claude Monet. Claude Monet đã vẽ, chỉ riêng, cho giàn bông súng trên chiếc ao nhà, không biết bao nhiêu tranh, chỉ khác giờ, khác ánh sáng thôi ! ( Bộ tranh Nymphéas – Bông súng). Đáng để, quý bạn bỏ một ngày viếng thăm !

Mầu Đen không phải là một mầu sắc :

Claude Monet, sanh ngày 14 tháng 11 năm 1840, tại số nhà 45, đường Lafitte, Paris, Pháp. Cha là Adophe Monet, mẹ là Louise-Justine Aubrée. Năm 1945, gia đình rời thủ đô Paris để dọn về Le Havre, thành phố cảng phía Bắc nước Pháp. Tuổi thơ, chàng học rất tầm thường, chỉ thích vẽ. Năm 1851, mới 11 tuổi, mà chàng đã bắt đầu vẽ những chân dung các thầy giáo, cô giáo của chàng và các nhơn vật chánh trị. Năm 1857, mất mẹ, chàng đành bỏ học, và về ở với bà dì Jeanne Lecadre. Bà Jeanne Lecadre lại là một họa sĩ tài tử, sống sung túc ở một biệt thự với một mãnh vườn khang trang, đẹp đẻ. Năm 1859, chàng gặp Eugène Boudin, một nhà báo chuyên nghiệp ngành hội họa. Và nhờ Eugène Boudin dẫn dắt, giới thiệu, chàng được đi vào, làm quen với giới tài tử hội họa, nhứt là với nhóm nghệ sĩ chuyên vẽ cảnh ngoài trời (Lúc bấy giờ, hội họa thường sáng tác trong xưởng, với người mẫu). Được bà dì giúp đở, chàng « lên » Paris, tập tửng vào nghề, bán vài bức hình vẽ - dessins -  của chàng, la cà làm quen với các galeries – các phòng triễn lãm, lang thang nhập cuộc vào các buổi nhậu ở các quán bia - brasseries - bắt tay vào họa tranh – toiles, và bắt đầu triễn lãm – expositions. 
Tháng 4, năm 1861, 21 tuổi, chàng nhập ngũ, đi quân dịch, bị phái đi Algérie, phục vụ tại Trung đoàn 1, khinh binh Phi Châu - 1er régiment de chasseurs d’Afrique. Vì mắc bệnh thương hàn, nên chàng bị gởi trả về Pháp. Chàng về đến cảng Havre năm 1852. Nhờ bà dì ứng tiền bồi hoàn chánh phủ, nên chàng được giải ngũ sớm. 
Và ghi tên nhập trường Mỹ Thuật Hoàng gia Paris – École impériale des beaux-arts de Paris. Ở đấy, chàng học cùng với Sisley, Renoir (những tài danh về họa sau nầy) và đặc biệt chàng được hoạ sĩ Bazille rủ chia xưởng vẽ và sáng tác chung cho đến lúc Bazille mất. 
Năm chàng 26 tuổi, tiếng sét ái tình. Nàng, Camille Doncieux, nguyên là người mẫu của Manet và Renoir. Nàng nhận làm người mẫu cho chàng và chẳng chốc cùng nhau xây tổ uyên ương, năm 1870. Từ nay có gia đình, hai vợ chồng cần một cuộc sống ổn định ! Paris quá đắt đỏ, đời sống khó khăn, tranh chàng không bán chạy, bèn dọn nhà ra ở Argenteuil, ngoại ô Paris. Và cũng để dễ bán, từ nay, chàng không vẽ tranh khổ lớn nữa. Tình trạng gia đình càng khó khăn với những cơn bệnh của Camille. Năm 1879, sau khi đã đẻ cho chàng hai đứa con, nàng mất vì bệnh lao phổi. 
Claude Monet, được một gia đình một mạnh thường quân, ông bà Hoschedé, một kỷ nghệ gia  ngành vãi, một người mê và sưu tập tranh của Claude Monet giúp đở. Và mời Claude và hai đứa con mồ côi mẹ về sống với gia đình họ gồm hai vợ chồng và 6 đứa con, ở Véneuil, gần Pontoise… (tất cả những địa danh nầy đều nằm ở ngoại ô của Paris). 
Năm 1881, ông chồng mất, bà vợ Alice và Claude bèn sống chung với nhau và dọn ra ở riêng ở Poissy. Cuộc tình hai người tạo một xì-căng-đan lớn ở Paris lúc bấy giờ ! Thế nhưng, tranh của Claude Monet lại gặp thời, bắt đầu có giá. Và tình hình kinh tế gia đình cũng theo đó mà khá hơn ! Các galeries - phòng triễn lãm, cạnh tranh trưng bày Claude Monet. Khách Pháp thích đã đành mà cả khách ngoại quốc nữa, đặc biệt khách bên kia bờ Đại Tây Dương. 
Năm 1883, hai vợ chồng cùng tám người con, tậu một căn nhà to rộng ở làng Giverny, một trang trại với một mãnh vườn rộng cả một hecta với cây ăn trái, và vườn hoa, cách Paris khoảng 70 cây số. Từ đây, Claude Monet có hẳn một mạng lưới người mê và chơi, sưu tầm – collectionneurs - tranh ấn tượng – impressionnistes – đặc biệt với khách hàng Huê Kỳ. 
Từ nay, Claude Monet đã thành danh, là một nghệ sĩ thành công với một cuộc sống ổn định! Alice và Claude có dịp chu du khắp thế giới. 
Dù thương vụ nghề bán tranh có khi trồi có khi sụt, nhưng cuộc đời của Alice và Claude từ nay, sung túc hẳn ra. Cho đến năm 1909, Alice đau nặng và mất vào tháng năm 1911. Năm sau, Claude Monet bị bệnh đục tinh thể mắt – cataracte – lòa dần. Phẩm chất tranh bị ảnh hưởng. Năm 1914, Claude mất người con trưởng, và năm 1919 Auguste Renoir người bạn thân. Từ nay, bước vào giá vẽ là một khó khăn, chàng quyết định xin mổ mắt, năm 1923, nhưng, sau đó, thị giác cũng không khá hơn. Ngày 5 tháng 12 năm 1926, Claude Monet mất, sau một cơn sốt sưng phổi do căn bệnh ung thư phổi. hoành hành. 
Ngày đám táng, Georges Clémenceau, Chủ tịch Quốc Hội (Chế độ nước Pháp dưới thời Đệ Tam Cộng Hòa là Đại nghị Chế – parlementaire. Chủ tịch Quốc Hội – Président du Conseil cũng là Chù tịch Chánh phủ – không có chức Thủ tướng). Georges Clémenceau, Chủ tịch Quốc Hội, thay tấm vãi đen phủ linh cửa Claude Monet bằng một tấm vãi nhung mầu xanh nhạt của hoa pervenche, mầu tím của hoa myosotis và mầu đỏ của hoa hortensia – une cretonne ancienne aux couleurs des pervenches, des myosotis et des hortensias ». 
« Không  - ngài thốt lên  -  Với Monet không được dùng mầu Đen -  Mầu Đen không phải là một mầu sắc – Non ! Pas de noir pour Monet ! Le Noir n’est pas une couleur ! ».
Sau thánh lễ ở nhà thờ Sainte Radegonde, Monet được đưa về an nghĩ ở nghĩa trang Giverny.

Từ căn nhà hạnh phúc đến một bảo tàng viện :

Trang trại Giverny, cùng toàn bộ những tranh quý, cùng bộ sưu tầm tranh Nhựt bổn, cả gia tài được giao cho con trai là Michel hưởng và cai quản. Nhưng Michel, năm ấy đã 48 tuổi, quý phái, đẹp trai lại thích đi săn voi bên Phi Châu hơn là quản thủ gia tài của cha mình để lại.  May thay, toàn thể Giverny, trang trại, vườn tược được anh làm vườn Lebret chăm sóc, cho đến ngày mất của Lebret – tháng 12 năm 1947. Cũng từ đó mãnh vườn bị bỏ hoang, thiên nhiên trở lại làm chủ. Và càng ngày càng bị hoang phế, khi Michel mất vì một tai nạn xe. 
Không người thừa tự, nên Michel, đã viết di chúc tặng toàn bộ cơ sở và gia tài mỹ thuật cho Viện Mỹ Thuật – Académie des Beaux-Arts. Viện Mỹ Thuật, gởi toàn bộ sưu tập tranh Nhựt Bổn và tranh của Claude Monet cho Viện Bảo Tàng Marmottan trong lúc chờ đợi, sửa sang. Nhưng làm lại từ cái mái căn nhà, đến sửa sang, sơn phết, trang điểm toàn bộ mãnh vườn, là cả một tốn kém. Như muối bỏ biển, làm bao nhiêu cũng không xuể. 
Năm 1977, Viện Mỹ Thuật giao cho Gérald Van der Kamp. Van der Kamp, với một ít phụ cấp chánh phủ, mở một chiến dịch bảo trợ. Tiền đến từ mọi nơi, nhiều nhứt ở Mỹ. Và trong nhiều năm, tổ chức một cuộc tân trang, tái phục hồi trang trại Monet. Mãnh vườn được thiết kế lại hoàn toàn, chiếu theo những hình ảnh của những bức tranh của Claude Monet. Bộ sưu tập Nhựt bổn từ nay, được treo, sang trọng, trang hoàng những bức tường của phòng khách, phòng ăn, phòng hút thuốc, y như thời sanh tiền của Claude Monet. Toàn thể trang trại Giverny, sở hữu của Claude Monet, nay đã hoàn toàn tân trang lại, là một Viện Bảo Tàng và mở cửa rước du khách dưới sự quản trị của Fondation Monet-Viện Monet ra đời năm 1980.
Từ nay, cho đến đầu mùa Đông, mãnh vườn trăm hoa đua nở, với những loài hoa, loài thảo mộc, được đã được trình bày trên những tranh của Claude Monet. Và Monet cũng tâm sự rằng nhờ những loại hoa nầy mà Monet đã trở thành họa sĩ. Mãnh vườn với 25 ngàn gốc thảo mộc khác nhau, cùng căn nhà xinh xắn, cũng như xưa, với những mầu trắng xanh vàng, với những bức tường gắn carô sứ – carreaux de faïence -  hay dán giấy mầu – papiers peints – từ nay  hấp dẫn, sống động ! Mỗi Mùa Xuân đến, mang đến nửa triệu du khách, sắp hàng, chen lấn nhau hằng năm đến chiêm ngưởng cái căn nhà đầy hạnh phúc nầy đã bao nhiêu năm  ru hồn chàng họa sĩ của những khoảng khắc - le peintre de l’éphémère – ông Thầy của Phái Ấn tượng – Le maître de l’Impressionnisme nầy !

Ấn Tượng : Ngàn Thu trong Tạm Bợ : 
L’Impressionnisme : Saisir l’Éternel dans le Transitoire :

Cái tên « Impressionniste » do một anh bình luận hội họa của tờ nhựt trình « Charivari », năm 1874, dùng để chế ngạo bức tranh « Impression Soleil Levant - Cảm Xúc buổi Bình Minh » do chính Claude Monet vẽ hải cảng Le Havre nhìn qua của sổ phòng mình năm 1872. Nhà phê bình dùng từ « sự chế nhạo của trường phái ấn tượng – la dérision d’école impressionniste » để định nghĩa bức tranh nầy ! 
 -  Vào tên ấy chết luôn, biến thành tên chung của nhóm các nghệ sĩ trẻ cùng thời với Claude Monet, đang tìm cách cởi trói, phá luật, phá lệ, phá mọi ràng buôc của 4 thế kỷ luật lệ Hội họa. Và tất cả, đều từ nay biến thành những họa sĩ phái ấn tượng – les impressionnistes ! Dĩ nhiên là Monet, nhưng cũng là  Manet, rồi Renoir, hay Berthe Morisot, hay Caillebotte hay Degas … Tất cả một lòng, xa lánh, vứt bỏ, phá lệ …  Tất cả xa lánh, vứt bỏ cái hội họa cổ điển của các bực thầy, dùng … mầu đen, dùng mầu xám, để tạo bóng, để tạo cái tranh tối tranh sáng, để tạo chiều sâu,để tạo bóng tối, để tạo cái  ẩn hiện … Tất cả xa lánh, vứt bỏ những luật lệ trộn mầu để vẽ những nhơn vật, để vẽ những hình ảnh, với nhiều chi tiết, như một bức hình chụp … Đối với họ, tranh là một cái gì, táo bạo, mầu sử dụng nguyên chất, dầy cộm, …  Bỏ đi những nét vẽ sắc sảo, sao đúng sự thật, … Cái quan trọng là mầu và ánh sáng. 
Chẳng chốc các phòng triễn lãm, thời ấy, tẩy chay, ... cấm cửa, không nhận những anh chàng « tô mầu dốt đặc ngành hội họa nầy – ces barbouilleurs qui ne maîtrisent pas la peinture ».Thật vậy, với đám nghệ sĩ mới nầy, hội họa là một quan niệm trừu tượng, gồm ánh sáng và mầu sắc. 
Kỷ nghệ làm sơn trình sơn dưới dạng những ống sơn mầu đã mở cửa người nghệ sĩ. Từ nay, có thể vác gía vẽ ra đồng, ra ruộng để vẽ tranh bán, không cần phải ở trong xưởng vẽ nữa ! Giá vẽ lưu động, con người lưu động, cây cọ nhẹ nhàng nhảy múa, với những nét chấm phá, nhị nhàng, người nghệ sĩ không cần đi tìm một cái đúng, một cái thực, mà chỉ đi tìm cái động  cái dnág, cái ảnh … Những hình, những dáng, những ảnh nhòe đi, nhảy múa… trong các khung đầy ánh sáng… Những nhơn vật, lẫn lộn, hòa trộn trong một không gian đầy ánh sáng, đầy mầu sắc… giòng nước, ánh sáng, mầu sắc không hòa trộn nhau mà đặt cạnh nhau đễ chính đôi mắt  của người ngắm tranh hòa lẫn, trộn lẫn nhau… 
Các nghệ sĩ ấn tượng chơi mầu, chơi ánh sáng, táo bạo, ngoại lệ, lợi dụng khói, sương, nước và ánh sánh phản chiếu trong những vật ấy … Họ có thể ngồi hàng giờ, để rình bắt cho được một giọt nắng, một ánh mặt trời, thấp thoáng, le lói, phản chiếu … trong một khung cảnh rất bình thường, rất hằng ngày … Claude Monet, chẳng hạng, mê mẫn, có thể suốt một ngày, chỉ đi tìm một ánh nắng, một giọt sáng «  có ý nghĩa – để đối thoại với tâm hồn chàng » … Nếu không tìm ra, chàng không ngần ngại, xóa bỏ, rửa sạch bức tranh bằng xà bông và vẽ lại  … Chàng không muốn sao chép, hay chụp hình thiên nhiên, chàng muốn tả thiên nhiên qua cái nhìn, các xúc động của mình … chàng muốn thiên nhiên đối thoại với mình ….

Để kết luận : 

Ngày nay, thị trường tranh của phái ấn tượng đang phá tất cả những giá cả trên thị trường. Vừa qua một bức « Bông súng - Nymphéas » được bán với giá 30 triệu euros. 
Mong sao các bảo tàng Viện Pháp đừng vì ham tiền, đem bán các tranh Ấn tượng …


Hồi Nhơn Sơn, một Tháng Tám đầy nắng 
Phan Văn Song 

Chiếc Xế Một Thời

posted Aug 14, 2019, 11:09 PM by Andy Nguyen




Pour les yersiniens ... nostalgiques de Saïgon
Les dernières années de Saïgon
Marabout PVS LY61


2019-08-09 : Những Cuộc Tình với Xế  Hộp:
  Chiếc Xế Một Thời
 FORD MUSTANG

Phan Văn Song
 
« vanitas vanitatum omnia vanitas - vanité des vanités, tout est vanité. Kiêu căng của những kiêu căng, tất cả chỉ kiêu cang»                                                                                       L'Ecclésiaste – Sách truyền đạo 1.2
Thưa quý bà con,                                                                                                                       Thưa quý thân hữu,
« Le Moi est haïssable – Cái Tôi đáng ghét ». Hôm nay lại để cái tôi kể chuyện, kể về cái thú mê xế hộp, với những chiếc xế một thời, mà thằng tôi mua chơi. Vanité - Kiêu căng, hợm mình, được Kinh thánh Việt Nam dịch là « hư không, tất cả là hư không », do đó, phải kết luận, rồi mọi chuyện, cuối cùng trở về, với hư không  Vì vậy, xin phép quý bà con, quý thân hữu, vài hàng mạn phép, để « cái đáng ghét, cái thằng tôi » kể chuyện đời xưa với những thú vui, để chia sẻ, mua vui vài phút ! Mai nầy, buông tay xuống, trở về với hư không !
« Toutes choses ont leur temps, et tout passe sous le ciel, après le terme qui lui a été prescrit- Mọi sự gì cũng có thì tiết, mọi việc dưới trời đều có định kỳ »                                 L'Ecclésiaste-Sách truyền đạo 3.1
Do đó « Chơi xuân kẻo hết xuân đi / Cái già xồng xộc nó thì tới nơi” như văn hào Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) đã dạy ta.  Và cũng như thi hào Pháp Ronsard, lúc xưa, (1524-1585)               đã khuyên người tình Hélène, trong bài thơ cho Hélène :                                                           « Hãy nghe tôi, hãy sống đi, Đừng chờ ngày mai,                                                                   Hãy hái những hoa hồng ngày hôm nay  -  Vivez, si m'en croyez, n'attendez à demain :
Cueillez dès aujourd'hui les roses de la vie. …. ». Vậy thì :
 Carpe Diem :
   Tánh tình thằng tôi lập dị, có lẽ hơi ngông, có những thú, đam mê hổng giống ai !                    -  Thuở nhỏ, tôi rất mơ xế hôp loại lạ, loại xế hộp hổng giống ai. Những Peugeot 404, Mercedes, … thiên hạ mê, tôi không thích. Thằng tôi lại thích xe do người Anh sản xuất ...  Jaguar, Austin, Triumph ... ; và tôi cũng rất mê xe Huê kỳ, nhưng loại sedan 2 cửa, hay fastback … Oldsmobile Cutlass, Cadillac, Mustang ... ; còn nếu nói xe Pháp, tôi chọn xe xưa đời 50,60, hơn là thời bây giờ, nếu Đức tôi chọn BMW hơn Mercedes ; riêng xe Nhựt tôi thích Mitsubitchi, Honda, Subaru hơn là Toyota … Đó là sở thích không cắt nghĩa được !                  -  Ngày nay, già rồi, trái lại, tôi thích mua lại xe cũ, xe vứt của người khác, rồi nhờ bạn bè, dân biết làm máy giỏi tân trang lại … (vintage hay old timer hay young timer). Tôi hãnh diện đi xe cũ, sửa sang, tân trang làm máy lại, chạy ngon lành, hãnh diện với giá mua rẽ, nếu được cho không lại càng hãnh diện nữa … Từ 10 năm nay, bốn chiếc cuối cùng, tôi đều mua lại xe do bạn bè vứt đi ... ai cho xe gì tôi nhận cái ấy. Ngày nay, tôi còn hai chiếc. Năm 2017, chiếc Renault Clio đời 1997. Số là, từ ba năm nay, Paris cấm không cho chạy vào thành phố các xe quá cũ, sợ ô nhiễm. Xe Clio nầy, do người con trai anh bạn thân đã lâu, lượm được từ garage một người bạn già vứt bỏ, bỏ công trong nhiều tháng, tà tà tân trang, làm máy, phụ tùng hoàn toàn mới, cho cô vợ làm chưn đi làm ! Thế nhưng, khi sửa xong, thì vào lúc Paris ra lệnh cấm các xe cũ trước năm 1998 chạy vào thành phố ! Đành phải vứt sao ? Tình cờ đúng dịp, thằng tui lên Paris thăm bạn, nghe chuyện. Tôi đề nghị cháu bán lại - giá cả công trình tân trạng – thằng cháu chịu chơi, ngon lành, chỉ lấy lại tiền phụ tùng làm lại chìếc xe thôi, tiền công thằng cháu tặng chú! Xe đem về làng, chạy ngon lành từ hơn hai năm nay, bà xã dùng để đi chợ, một năm chạy chưa đầy 5 000 cây số. Và chiếc thứ hai là chiếc tôi đang xài. Cũng là gặp dịp ngon lành : Mitsubitchi Outlander máy 2 ngàn 400 phân khối, bốn bánh thường trực, 4x4, công suất 160 mã lực, uống xăng như uống nước, nay vì xăng lên giá, mắc quá, nên ông chủ người Pháp dân ngoại ô Paris bèn - qua một người quen giới thiệu - bán rẽ cho tôi – Tôi chịu tốn tí tiền, đổi nhiên liệu - cũng nhờ chổ quen biết - nên chi phí thay thế chỉ tốn 1500 € thôi, để ráp một bộ phận giúp xe từ nay chạy  bằng khí  của dầu hỏa GPL ( 7 cắt một lít, thay vì 1,5 € một lít xăng). Tổng cộng mua và sửa, tất cả là 3 500€. Đem về chạy ngon lành … Từ nay, các thành phố lớn như Poitier…. Hay Lyon, Bordeaux Toulouse Paris, gặp trời ô nhiểm bụi bậm cấm xe cũ vào ! Trái lại, xe tôi, chạy bằng khí trong sạch vào ngon ơ ! Chiếc xe sanh năm 2004 – tuy cũ, tuy đã 15 năm, nhưng nhờ anh chủ cũ, vì xăng mắc, vì quá to, nên sử dụng hà tiện do đó chỉ xài mới trên 100 ngàn cây số thôi !! Ngày nay, vợ chồng thằng tôi, người của thời cũ, đành dùng vật cũ ... les old timers together ! 
 -  Thuở thiếu thời, hồi sanh viên,ở Pháp, cũng đã mê xe lạ rồi. Đi một năm là chán, hể có dịp là đổi xe. Năm 1964 vừa ra trường đi làm, ngay Hè năm đầu 1965, sắm ngay chiếc xế đầu tiên là chiếc Panhard Tigre, hổng giống ai, máy flat-twin công suất 6 CV (giống Citroën 2CV, giống Porch, giống moto BMW) 6 chổ ngồi, để chở bạn bè đi chơi. Năm sau, chơi ngon hơn, nhưng ích kỷ, đi một chiếc Peugeot 203 mui trần 2 chổ ngồi. Gặp em Chantal, chịu chơi, thích xe Anh, hai đứa đổi sang xe sport, trẻ trung hơn Austin-Healey Spitre, với cặp đèn như cặp mắt ếch - frog eyes - mui trần … Ở Toulouse, lúc đó cũng độc nhứt vô nhị ! Hai năm sau, lấy nhau thằng Cả ra đời, bắt buộc từ nay phải  hai xe, vì hai đứa làm hai ngã, giáo chức, em đi làm xa, thứ hai lái đi, thứ sáu lái về, em lựa chiếc Citroën 2 Ngựa, thằng tui đi làm gần, sáng đi chiều về đưa rước gởi con, nên chọn chiếc Renault 4 mã lực (để nhớ Taxi Sài gòn)  Giáo chức nên phải sống bình dị, nhưng lỡ ngông rồi, tôi vẫn ngông ! Những năm cuối cùng từ cuối năm 1969 đến 1971 là năm làm luận án, trước khi về nước, nàng bán chiếc 2 Ngựa, mua chiếc Renault 4L mới toanh cáu cạnh, mình cũng chán chiếc 4CV bèn mua lại chiếc VW con Bọ Hung 1200 - Beetle – Coccinelle cũ  của anh bạn. Đấy là hai chiếc xe cuối cùng của hai đứa trước khi về Việt Nam …
 -   Khi mới về Sài gòn, bơ vơ của thuở ban đầu, tuy giáo chức Đại học đấy, nhưng lương ba đồng ba cọc chết đói, ở đậu nhà ba mẹ, phải mượn lại chiếc Vespa Pháp, guidon trần mua 10 năm trước, thời sanh viên trường thuốc, khi đi Pháp, để lại cho thằng em. Cuối tháng sáu năm 1972, An Lộc giải tỏa, thằng tôi giải ngũ, biệt phái trả về lại Trường Luật, Trường không xài, cho Ngân Hàng mượn. Nhờ được phép làm việc với Ngân Hàng, từ đó đời lên hương.       -   Lại thêm may mắn gặp quới nhơn, bạn hiền, bạn H. Vốn là dân mua bán xe, thấy tôi lanh lợi, nên rủ thằng tôi hùn hập mua xe cũ, tân trang, sơn sửa, chùi láng, bán lại kiếm lời. Thằng tôi, với cái chức vụ Giám Đốc ngân hàng, sẽ vừa sử dụng xe để đi làm, nhưng cũng là vừa để chưng hàng xe luôn, Sáng sáng ra Ngân hàng với xe cáu cạnh, sang trọng, láng coóng, xe đậu trước của Ngân hàng có anh giữ trật tự Ngân hàng trông nom, xem rất le lói ( có lúc đậu cả hai xe cho khách lựa chọn). Khách hàng ra vào, thấy ông giám đốc đi toàn xế xộp, le lói, nên khen, khoái, dòm ngó,  nếu thích, hạp nhãn, hạp túi tiền, hỏi mua, được giá, thì mình bán, tiền lời mình chia với anh bạn chuyên nghiệp, sau khi trừ chi phí tân trang chùi bóng. Xe do anh bạn H.  chuyên nghiệp tìm mua, sửa soạn, ra giá… bán xong anh bạn lại giúp bạn hàng làm thủ tục sang tên. Nói đến đây, nhớ mãi cái ơn, rất lớn, của bạn hiền đã giúp mình qua ải một thời và xin đôi lời tri ơn ! Bạn H. người anh em Không Quân (cựu Trung tá) pilot chịu chơi… dám giao xe, giao tài sản, vốn liếng, cho mình đi cả tháng ! Mình không bao giờ quên ơn bạn. Bạn nay, sau cơn hoạn nạn 10 năm tù đày, sau cơn stroke suýt chết năm xưa, hiện đang sống tuổi già hạnh phúc ở Bắc Cali! Thương nhớ Bạn hiền !
Thằng tui không bán các xe hiệu Âu Châu, các xe ấy, để bạn H. lo, thằng tui chỉ chuyên bán xe Huê Kỳ, tuy khó bán hơn … Chơn ướt chơn ráo mới vào nghề, mà bạn H. dám giao hẳn cho tui một chiếc gần như thường trực, làm cẳng, đi gần suốt cả nửa năm, một chiếc Oldsmobile Cutlass 442 máy 6.600 phân khối, công suất 450 mã lực, 1969 fastback 2 cửa. Giữ đến ra Tết 1973, mới bán được và lời bộn. Nói tóm lại, đời bán xe, từ khi gặp H. giữa  tháng 8 năm 1972, đến cuối tháng 6 năm 1973 … gần suốt cả thời gian làm nghề ngân hàng, nhờ bạn giúp, thằng tui được, xài, lái được một lô xe cáu cạnh, ngon lành. Cá nhơn tôi thời gian ấy, sử dụng được 3 chiếc xế ngon lành nhớ đời, 2 xế Huê Kỳ và đặc biệt một xe Đức VW Beetle 1303S máy lạnh mà tôi mua lại hẳn của H, giữ cho bà xã đi một thời gian và cũng bán sau đó . Thế là suốt thời gian sống ở Việt Nam (1971-1980 – với 4 năm tù Việt Cộng ) vợ chồng chúng tôi chỉ còn giữ được một chiếc La Dalat mui vãi là lâu nhứt. Bà xã mua chiếc nầy, ngay sau ngày mất nước, năm 1975, để bả đi làm (Toà Đại sứ, Toà Lãnh sự Pháp) và giữ mãi đến giữa năm 1979, trên 4 năm, đến khi bả bị trục xuất. Không biết bả vứt cho ai. Riêng cá nhơn thằng tôi có chiếc nào bán chiếc ấy, kể cả chiếc Fiat 125 mang từ bên Pháp về - cũng nhờ bạn H... bán dùm. Thằng tôi, thật có phước, thời làm ngân hàng thì đi những xe của H. giao bán, sau qua làm BGI lại có xe hảng cung cấp với tài xế, nên suốt thời gian làm việc ở Sài gòn, trừ mấy tháng hồi mới về, hàn vi, làm việc Trường Luật và đi lính, phải lúc xe đạp, lúc Vespa, sau nầy từ khi vào nghề Ngân Hàng trở đi, lúc nào cũng có xế hộp ngon lành ...
-  Trở lại nghề bán xe (tài tử – a ma tơ). Có những loại xe Mỹ bán rất rất nhanh, như loại Chevrolet Impala, Bel Air... người Việt Nam và người Tàu rất thích… nhưng cá nhơn tôi lại không thích lắm vì 4 cửa… nên khi tôi nhận đi để bán, tôi không giữ lâu, hể được giá là tôi bán ngay ... Chỉ có ba chiếc tôi giữ rất lâu là một chiếc Mustang Fastback 1967, chiếc VW Con Bọ Hung - Beetle 1303S máy lạnh và dĩ nhiên chiếc Cutlass đầu tay … Qua tháng 7 năm 1973, vào làm BGI, vì có xe hảng và không có quyền lái xe nữa, nên thôi không phụ bán xe với bạn H. nữa, chỉ còn giữ chiếc VW, cho bà xã xài thôi ! Lý do chánh là Hảng BGI buộc các chủ sở và giám đốc phải dùng xe hảng, và phải có tài xế lái, nên tôi không còn dịp bán xe nữa.
 Mustang 67 Fastback :
   Hôm nay xin phép kể chiếc xế mà tôi, rất mê và giữ khá lâu để sử dụng riêng. Sau chiếc Cutlass, là chiếc Mustang 1967 Fastback máy V8 390 ci (cubic inches), công suất 320 mã lực … Tôi mê chiếc ấy kinh khủng, mê hơn chiếc Cutlass. Chiếc nầy với cái dáng Fastback, thoáng nhìn, mường tượng giống chiếc Mustang 68 của phim Bullitt… Mỗi ngày lái đi làm, Chúa Nhựt tôi chở bà xã và con đi chơi Vũng Tàu, bà con tụ tập, đến xem dòm ngó, mặc dù dân Sài gòn thời ấy rất quen thuộc xe Huê kỳ ! Tôi giữ trên hai tháng, mặc có hai anh khách người Hoa nài nĩ, mặc anh bạn cằn nhằn, tiền vốn bỏ ra chưa lấy lại được … mà sao tôi cứ ngâm tôm ! Cùng lúc, còn phải bán chiếc Mustang thứ hai nữa, tôi phải thay, hôm đi chiếc nầy, mai chiếc kia, ra sở để chưng hàng. Có hôm tôi đậu cả hai chiếc Mustang, chưng hàng, trước cửa Ngân Hàng, góc đại lộ Trần Hưng Đạo – đường Đồng Khánh –! Cuối cùng, một trong hai anh khách người Hoa hốt được, nhờ trả giá rất cao và còn hứa sẽ cho tôi mượn đi khi nào tôi thích. Còn chiếc Mustang thứ hai, thường hơn, cũ hơn, năm 65, 6 máy, coupé hardtop, nên dễ bán, – chưa đầy một tuần là xong ( dân Sài gòn thuở ấy sợ V8, chọn 6 máy vì V8 uống xăng khùng luôn!). Riêng chiếc VW Beetle 1303S,  bà xã tôi quá mê, vì nó không lòe loẹt, nên tôi mua đứt hẳn của H. để làm quà tặng bà vợ vào dịp Tết 1974 và cũng bán vào đầu năm 1975.
  - Dĩ nhiên tất cả các xe ấy đều xe do người Mỹ sở hữu bán lại trước khi về nước, bảng số màu xanh, mua xong phải ra Quan Thuế để làm thủ tục Việt hóa. Hai chúng tôi, bạn tôi và thằng tôi, nhờ nhiều quen biết nên mượn được « số ẩn tế » cho  các « xe riêng » của các cơ quan đặc biệt, chúng tôi « mượn » xài tạm cho những xe để bán nầy… Anh em ở Sài gòn quen biết nhau cả, nên cũng dễ chịu, làm lơ cho chúng tôi !.
   Đôi lời kể cùng quý bà con, thân hữu, những câu chuyện xưa, tào lao, của cái xứ Sài gòn tụi tui, gọi là giúp cho vui mùa Hè nóng bức nầy ! Nếu bà con nào không thích chuyện đời xưa. Mong quý vị tha thứ !
Ford Mustang : 55 tuổi !
1964-2019, Ford Mustang được 55 tuổi ! Nhiều đời khác nhau, nhưng chỉ một phong độ ! Mustang từng đóng film. Ở Pháp với đạo diễn Claude Lelouche và tài tử Jean Louis Trintignant cùng Anouk Aimé và thành phố biển Deauville. Ở Mỹ với đạo diễn Peter Yates và  tài tử Steve Mac Queen cùng Jacqueline Bisset và thành phố muôn thuở San Francisco !
Nhớ thuở ấy, nhớ thời ấy, và cuốn phim ấy, nhớ đời : Năm 1968, ngày 17 tháng 10, phim Bullitt ra mắt khán giả Huê Kỳ. Bullitt đặc biệt là một phim dành riêng cho những ai từng mê, từng ái mộ, tưng là fans của tài tử Steve Mac Queen và ... của xe Mustang. Sở dĩ ngày nay, người ta không quên phim Bullitt, ấy là nhờ tài diễn xuất của Steve Mac Queen và nhờ 10 phút hai xe đuổi rượt nhau trên đường phố đầy dốc, đầy « cua » của San Francisco !
Chiếc Mustang của Trung Úy Cảnh Sát Bullitt :
Hai tài tử chánh của phim ... phải nhìn nhận, là ... chiếc Ford Mustang Fastback GT 390 mầu xanh lá cây (lam) sậm, mầu Highland Green, và chiếc Dodge Charger mầu đen. Với tiếng máy gầm rú, tiếng thắng rít khi bẻ « cua », và giàn bánh reo nhịp nhàng, cùng làn âm thanh của giàn nhạc của nghệ sĩ Lalo Schifrin, đã, ... trong vòng 10 phút đầy hồi hộp, đứng tim, nhắm mắt, nín thở, ... làm quên hẳn anh tài tử chánh « King of cool », …  Steve Mac Queen !
Mà chính Steve Mac Queen cũng muốn như vậy ! Steve Mac Queen muốn những hình ảnh hai xe đuổi  nhau, rượt nhau phải chạy thực sự, quay thực, diễn thực với phong cảnh thật, trong đường phố San Francisco thực sự, với các dốc, với các khúc quanh, với cái xe tramway muôn thuở điển hình của San Francisco ! Để diễn xuất, để quay phim, thực hiện, hảng phim Warner Bros mua  đến hai chiếc Mustang giống nhau như đúc, đều cho sơn mầu xanh lam Highland Green. Hai chiếc mang hai biển số khung xe – chassis nối tiếp nhau 558 và 559, chuyện hi hữu ! Cà hai chiếc đều được đưa đến garage chuyên nghiệp hóa trang Max Balchowsky để sửa soạn xe thành xe chuyên môn, để quay những cảnh đua giựt gân. Đặt một khung đở đầu – arceau,  trong lòng xe, thay một giàn nhúng cứng hơn và hộp số ngắn hơn… thể thao hơn ! Có lời đồn rằng hảng Ford cũng gởi đến hai chiếc Galaxie để làm xe « bọn du côn »… nhưng xe Galaxie quá nặng để « nhảy » trên những dốc ở San Francisco, nên hảng phim lựa sử dụng chiếc Dodge Charger V8 440 Magnum đen … Khế ước quảng cáo « cà chớn » sao đó ? không ai tuân thủ cả, Ford hình như không trả tiền đã hứa cho phim ? Do đó, để trả đủa, Steve Mac Queen, lột nhãn hiệu Ford trên chiếc Mustang số 558. Chiếc nầy, dùng để quay những pha nguy hiểm, gay cấn. Các pha ấy đều do tay tài tử chuyên nghiệp mạo hiểm, Bud Etkins lái (Steve không được lái những pha nguy hiểm nầy vì hảng bảo hiểm cấm). Sau cuốn phim, chiếc Mustang 558 được bán và mất tung tích trong vòng 40 năm, để rồi năm 2017, người ta tìm được cái xác rách nát, trong một nghĩa địa xe ở Mễ Tây Cơ. Riêng chiếc Mustang thứ hai, chiếc với số sườn 559, từ năm 1974, đã do Robert Kiernan làm chủ. Và Robert cũng từ chối không bán lại cho Steve Mac Queen khi Steve nài nĩ hỏi mua vài năm sau. Năm 2019, con trai Robert Kiernan hưởng gia tài ấy !
Mustang Bullitt 2019 vs Mustang Bullitt 1968:
Và năm nay, 2019, Hảng Ford đang cho làm sống lại chiếc Mustang Bullitt. Những chiếc  Mustang Bullitt 2019 nầy, ngoại hình sẽ y chang những chiếc Mustang 1968 của phim Bullitt. Mustang Bullitt 2019 ra đời để kỷ niệm 50 năm Mustang Bullitt 1968. Nhưng máy sẽ mạnh hơn, vọt hơn, và có và chi tiết tân thời hơn, nhờ kỹ thuật thông minh ...
  -  Nầy nhé : Máy V8 5 ngàn phân khối, công suất 460 mã lực.  Mạnh hơn là cái chắc. Cũng được sơn mầu xanh lam Highland Green. Mầu xanh rất Anh Quốc của Steve Mac QueenY chang như xưa ! Cũng như xưa, cũng như Mustang Bullitt 1968, không có thương hiệu Con Ngựa trên mỏm xe, cũng không có tên Mustang trên xe, mủi xe có một vòng sơn bao mạ trắng, và ở đuôi, cặp ống khói đôi trắng, hộp số sang bằng tay, với 6 số, với trên đầu cần số một trái banh Bi da trắng. Niền bánh xe đen, 19 inches, giàn thắng sơn đỏ, nệm bọc da có sưởi ấm vào mùa đông, và dĩ nhiên toàn xe có hệ thống máy lạnh, chiếc Mustang Bullitt 2019 thật sự là một xe hạng sang hoàn hảo. Một mẫu mầu đen  Black Shadow cũng được ra đời, cho những ai lập dị khống muốn giống Bullitt ! Nhưng chắc khó bán !
Để kết luận :
Xe không có gì để chê cả. Dáng Fastback với cái đuôi xuôi, lúc nào cũng đẹp. Cộng một lô phụ tùng siêu đẳng, giúp bạn thay đổi cách lái, từ lái hoàng tử, tà tà đi dạo - Catinat Sài gòn thời xưa hay bờ hồ Dalat, hay dọc Promenades des Anglais ở Nice... đến lái sport hung bạo, ào ạt, rít bánh lúc bẻ cua khi xuống đèo Prenn, hay  khi dọc Côte d’Azur, từ Nice chạy về Monte Carlo ... tùy thời, tùy hứng – tùy tuổi của bạn ? Giàn âm thanh BetO với 12 loa sẽ ru hồn bạn, thoải mại du dương. Những đường may của ghế ngồi, đều tiệp cùng mầu với mầu thùng xe. Thương hiệu Bullitt cùng cả, trên cánh cửa, trên tay lái, không có tên Ford, cũng chẳng có hình Con Ngựa Mustang. Và giàn máy ? Giàn máy 2019 nầy khác hẳn chiếc 1968, Cũng V8 nhưng với 5 ngàn phân khối và 460 mã lực (so với 3900 phân khối và 450 mã lực của đời 1968). Hộp số tay 6 số, thay vì 4 số , … dịu dàng, dễ lái hơn. Với giá bán 54 900 euros, mắc hơn một chiếc Mustang thường ... cở chục ngàn euros. Nhưng, bạn sẽ là Steve Mac Queen, người hùng một thời ….
 
Hồi Nhơn Sơn, tháng 8 Hè 2019
Phan Văn Song 

Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê:

posted Aug 7, 2019, 10:56 PM by Andy Nguyen



2019-08-02 : Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê:

 Cà Phê

Phan Văn Song

Trời hồng hồng sáng trong trong.

Ngàn phượng rung nắng ngoài song.

Cành mềm mềm gió ru êm.

Lọc mầu mây bích ngọc qua mầu duyên Hè về - Hùng Lân (1922-1986)

 

Hè về ! Ở cái xứ Pháp của thằng tôi đang ở đậu, thiên hạ nói đến Hè là chỉ nói đến hai tháng : tháng 7 và tháng 8 thôi ! Phải, một trong những cái quyền của Con Người, cái Nhơn quyền đòi hỏi qua các cuộc đấu tranh đòi các quyền công dân và các quyền công nhơn, ... là được quyền nghỉ ngơi. Đấu tranh thành công nhứt của của chánh quyền xã hội 1936 Pháp là được nghỉ Hè ăn lương đầy đủ. Thuở ấy 2 tuần, ngày nay 5 tuần và làm việc chỉ 35 giờ một tuần …  Hai tháng Hè, vì thời tiết nóng nực, nên phải cho thợ thuyền công nhơn nghỉ ăn lương đầy đủ - phải vacances, phải nghỉ Hè : 2 tháng cho các học sanh, sanh viên, - một cách bán tiếp các thầy giáo cũng 2 tháng luôn ! Dở lắm cũng 2 tuần cho các công nhơn (ba tuần còn lại để dành cho Mùa Đông hai tuần, và một tuần lai rai )… các dịch vụ cũng bắt chước theo luôn ! ...  tiệm bánh mì đóng cửa – bánh mì là cần thiết, mà cũng vậy ( Việt Nam ta mua gạo, mỗi ngày nấu cơm, người Pháp, mỗi ngày phải đi mua bánh mì, bánh mì baguette không ai trữ cả, chỉ trữ bánh mì Mỹ, mềm, để khi ăn thì nướng thôi và thường dùng để ăn sáng) Các tiệm tạp hóa  nhỏ cũng đóng cửa (tôi thích đi tiệm tạp hóa gần nhà hơn là lái xe ra siêu thị, chật chội ồn ào) … Hè về dân chúng cả xứ Pháp, cả âu châu thoải mái rời nhà đi nghỉ Hè … dắt nhau xuống biển, lên núi, về đồng quê, hay đi du lịch … Mà lạ lùng thay, ở Pháp, hể nói đi du lịch là phải đi thăm xứ lạ … nghĩa là ngoài xứ mình đang ở, chứ đi xuống biển hay đi lên núi, viếng đồng quê lái xe có khi cả 6/7 giờ không được gọi là khách du lịch - touriste mà là estivant – dân đi nghỉ hè (estivant do chữ été - hè) !

Mà các xứ lạ ở âu châu, gần gần giống nhau cả … cũng cây, cũng cỏ, cũng hồ nước xanh, danh lam đâu đâu cũng giống nhau, vật lạ đâu đâu cũng giống nhau… cá nhơn thằng tôi, có cái may mắn, chúa thương tuổi trẻ hay tuổi trung hay tuổi gần già và nay tuổi già, đều phải lang bạt giang hồ đi kiếm ăn, nên đi cùng cả xứ Âu Tây, từ Tây ba Nha – Ý đại Lợi cuối Nam Âu Châu đến xứ Scotland miền Bắc Âu châu, rồi Phi Châu, Trung Đông, hai ba xứ… Mỹ châu, Úc châu thì bà con bạn bè kéo gọi qua thăm viếng … nên ngày nay tuổi già, thằng tui, hơi ngại đi xa, du lịch …

Vẫn biết đi máy bay một cái vù là xong, một giờ bay  vượt không gian bằng một ngày lái xe, nhưng tại sao các thủ tục máy bay quá rườm rà ? Tại sao các phi trường sao quá lớn ? quá rộng ? Tại sao những cái valises, xách tay càng ngày càng quá nặng ?… Vẫn biết có xe đẩy, có xe lăn … có người phục vụ … Nhưng còn nước còn tát, ngồi xe cho người phục vụ, sao coi « kỳ quá »… xe đẩy, xe lăn ngày nay, rồi ngày mai ? Sẽ sắp tới xe hòm, 6 ngựa kéo, sáu người khiên … Thằng tôi tiếc còn quá nghèo, không có máy bay riêng, không có có người xách giỏ, xách valises dùm mình … nên quá sợ du lịch ! Ngày nay, còn thích tự lái xe tà tà đây đó. Nhà lên Paris người ta lái xe 3 tiếng rưởi, 4 tiếng, tôi lái đến 6 tiếng – cứ 1 giờ tôi nghỉ 15 phút, có khi tôi dừng lại ngủ trưa nữa - siesta ! Thôi hỏng nói cái tôi nữa. Có lẽ vì tôi bực mình với cái không khí lúc nào cũng gấp gáp của thế hệ ngày nay … !

Mấy năm gần đây, hè ở Pháp từ nóng nực nay vọt đến nóng bức, nóng đến chó « phải ngáp » « canicule » ! ( từ canicule của Pháp do từ canicula của Ý là chó con (canis của la tinh). Nhưng đó cũng là tên bình dân của tinh cầu Sirius, ngôi sao sáng nhứt của chùm sao Đại Cẩu – la constellation du Grand Chien. Sao Sirius mọc và lặn cùng Mặt Trời vào lúc trời nóng nhứt từ 22 tháng 7 đến 22 tháng 8, do đó các nhà khoa học dùng từ canicula để gọi những ngày nóng nhứt (thằng tôi PVS xin dịch thoáng thành « chó ngáp » ! Vì khi chó bị nóng qua, chó hả miệng, thè lưỡi để kiếm hơi gió !)

Nói đến trời nóng, phải nói đến thức uống giải khát… Một trong những thức uống thường trực hằng ngày của thằng tôi là cà phê ! Cà phê, tôi uống suốt ngày, tôi pha một bình cở trên một lít, sáng pha tối hết, sáng sau pha bình mới ! Tôi không uống trà được, uống trà làm tôi không đã khát, … nếu tối, mà lỡ uống trà thì tôi mất ngủ, trái lại cà phê bửa tối làm tiêu hóa ngủ ngon… ăn cơm tối xong, tôi thường uống một tách expresso cho dễ tiêu hóa…

Tuần nay, cũng trong tờ tuần báo Obs quen thuộc, có bài viết về gốc gác Cà phê, xin phỏng dịch và mắm muối việt hóa thêm với lời bàn Mao tôn Cương, gọi là chia sẻ cùng quý bà con thân hữu một câu chuyện dzui để tránh cái nóng « chó ngáp » của  Mùa Hè năm nay !

 

A/ Cà phê : Từ thức uống đến quán Café - Cafetteria



 

Cà phê gốc Thổ Nhĩ Kỳ ?:

 

  1669 ngày 04, tháng tám, cách đây chỉ thiếu hai ngày nữa là đúng 350 năm, Soliman Aga,   - người mà theo truyền thuyết Pháp, là nhơn vật đã « nhập cảng » cà phê vào xứ Pháp -         rời tàu đặt chơn xuống cảng Toulon, Vương quốc Pháp. Soliman Aga, đến Pháp với nhiệm vụ  là sứ thần của ông Hoàng Mehmed IV của Thổ Nhĩ Kỳ. Thật vậy, Soliman Aga đến Pháp để trao một bức thư để giải tỏa một hiểu lầm giữa Pháp và Thổ. Thời ấy, dân Pháp đang bị mê hoặc bởi những mầu sắc và  những phong tục huyền bí của Phương Đông đầy quyến rũ … Trên đường từ Toulon lên Paris, dân chúng đầy tò mò, mê hình lạ, cảnh lạ, người lạ, tụ tập suốt đường hành trình của phái đoàn Thổ Nhĩ Kỳ. suốt dọc bên đường, qua những thành phố lớn như Marseille, Aix, Lyon …  dân chúng sắp hàng dài dài, ngắm xem phái đoàn ngoại giao đến từ Trung Đông! Hết ngắm nhìn, lại trầm trồ khen ngợi, nào xiêm y mầu sắc rực rỡ, nào áo mảo lạ, nào khăn vấn đầu – turban lạ mắt, nào áo choàng bằng hàng satin rực rỡ … nào những con chiến mã sặc sở, những ngựa kéo những cổ xe trang hoàng khác lạ... « les chevaux harnachés et caparaçonnés à la mode de leur Pays » ( Les Mémoires du chevalier d’Arvieux » éd de 1735 – Hồi ký của hiệp sĩ d’Arvieux xb năm 1735). Một thân hình vạm vỡ, lủng lẳng bên hông một thanh kiếm cong, dáng người hùng dũng, Soliman Aga cởi ngựa đi đầu đoàn. Với một khuôn mặt rạn nắng đen, với râu hàm rậm, dài nhưng chải chuốt, anh chàng đẹp trai, khoảng tuổi 50 nầy, đầy hấp dẫn, tạo hào hứng cho dân gian xứ Pháp… Ở mỗi nơi chàng và đoàn tùy tùng dừng chơn hay tạm nghỉ là những nơi tấp nập đầy người đến viếng thăm, và cuốn Hồi ký của hiệp sĩ d’Arvieux tả rõ,   người viếng gồm cả hai phái cả nam lẫn nữ – « des deux sexes ». Mọi mọi cử chỉ của phái đoàn, đều được mọi người theo dõi « On le suivait à la promenade, on le voyait manger, prier Dieu – Người ta tò mò đi theo, xem khi họ đi dạo, khi họ ăn uống, cả khi họ cầu nguyện Chúa của họ », chàng hiệp sĩ d’Arvieux tiếp tục viết phóng sự, tỉ mỉ kể chuyện.


 


Lai lịch thật sự của Cà phê:

 

   - Thức uống chàng Soliman Aga mang đến từ Contantinople ? – thủ phủ bấy giờ của xứ Thổ  – tên mới ngày nay là Istanbul.

   - Theo nhà đông phương học - l’orientaliste Jean Leclant, trích một nghiên cứu của Lefèvre d’Ormesson, năm 1951, cà phê được trình bày trong những tách nhỏ bằng sứ nhựt bổn, do những chú hầu bàn nô lệ đẹp trai, trẻ tuổi, trang diện trong những bộ quần áo đẹp của xứ Thổ – le café était servi dans des tasses en porcelaine fabriquées au Japon par des jeunes et beaux esclaves habillés d’un riche costume turc ». « Riêng đối với phái nữ, để làm bớt đắng, Soliman Aga, « một cách nhã nhặn, đầy ga lăng, đề nghị thêm đường – pousse la galanterie jusqu’à offir du sucre » !

    - Và từ đó nảy ra truyền thuyết, và từ đó biến thành huyền thoại, với ít nhiều mắm muối - xin lỗi, với ít nhiều turban, ít nhiều  áo choàng satin, ít nhiều trang sức, khi thì lọ bình bằng sứ Tàu, khi  thì tách chén bằng sứ Nhựt … và cứ như thế tiếp tục được truyền tụng đến ngày nay.

   - Do đó, câu chuyện về Soliman, vẫn tiếp tục được thần thoại hóa, và công vụ ngoai giao của Soliman Aga hoàn toàn thành công. Chàng mang toàn bộ đồ nghề để quảng bá cà phê xứ Thổ của mình. Đặc  biệt là giàn rang cà phê – le nécessaire pour la torréfaction… Và, nói tóm lại, « nghệ thuật chế biến và pha  cà phê là một vũ khí ngoại giao của chàng » !

    - Thế nhưng, nếu ngày nay cái huyền thoại cho rằng chính chàng Soliman Aga đã giúp cho cà phê được phổ biến ở Triều đình Pháp lúc bấy giờ, vẫn còn người tin. Thì sự thật là Cà Phê đã có mặt ở Pháp trước đó một thời gian rồi !  Nhà sử học và địa dư học Christian Grataloup nhắc ta như vậy ! Và nhắc ta cũng chớ quên rằng Vua Louis IV (trị vì 1643 -1715) không chờ đến Soliman Aga nhà ta ( 04/08/1669) để thưởng thức cà phê đâu nhé … ? «  Nhà Vua đã biết uống cà phê trước năm 1669 rồi ! Sổ sách sở thu mua hàng hóa của sở lương thực hoàng gia đã chứng minh việc ấy ! Nhà Vua và gia đình thường dùng cà phê trước khi đi ngủIl en buvait bien avant 1669, les documents liés aux approvisionnements royaux en attestent. Il se le faisait servir dans ses petits appartements avant de se coucher, en famille et en privé » Mireille Jacotin, quản thủ Bảo tàng Viện Muceum dẫn chứng. Theo Bà, Nhà Vua ( xin nhắc lại, Louis XIV sanh 1638, trị vì 1643-1715) hay dùng cà phê khi đi xem những buổi diễn xuất hay trình diễn những chuyện đông phương rất thịnh hành thời ấy… thứ nhứt những buổi trình làng – ra mắt quảng cáo hàng mới nhập từ đông phương.

 

Buổi ban đầu bỡ ngỡ :

 

   Vào những năm 1604, mọi hàng hóa, mọi thực phẩm đến từ Đông Phương đếu do cái hải cảng âu châu đầu tiên chuyên môn nhập cảng của lạ, và kể cả cà phê là Venise (Ý Đại Lợi). Tiếp theo đó là Marseille, « cửa ngõ của Đông phương – La porte de l’Orient » (của Pháp). Năm ấy là 1644, 25 năm trước thời Soliman Aga (1669).

    - Cà phê đã được dùng từ cuối thế kỷ thứ XV tại hai đế quốc Ba tư (Iran ngày nay) và Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) rồi. Những kiện hàng cà phê, và tất cả đồ nghề, cách rang, pha chế cà phê đầu tiên đã do nhà xuất nhập cảng Pierre de la Roque cho nhập bến Marseille từ Constantinople rồi ! Nhà xuất nhập cảng mở một tiệm (chưng bày) nhỏ nhỏ, rang pha chế cà phề cho vài bạn bè thưởng thức  «  Cái căn phòng nho nhỏ trang hoàng kiểu Thổ nhĩ kỳ, là cả một sự vật tạo sự hiếu kỳ, và những người được mời đến thưởng thức chất uống kỳ lạ nầy thường là những người bạn, từng đã du lịch đó đây, kiểu ông chủ tiệm la Roque, gần gủi thân thuộc với phong tục Đông Phương - Son petit cabinet à la turque, passait pour une vraie curiosité et le public invité à goûter le breuvage était composé de voyageurs amis comme la Roque, accoutumés aux usages du Levant » nhà Đông phương học Jean Leclant thuật lại.

    - Thật vậy, thuở ban đầu của cà phê, chất uống thịnh hành ngày nay, đầy bỡ ngỡ, do dự … Vài tay giang hồ đi lại quan biết với Đông phương, kéo theo vài bạn bè tò mò, tìm của lạ … vài nhóm thủy thủ các thuyền buôn, các thuyền giang hồ, vài tay lái buôn, vài tay thích của lạ, mạo hiểm, thưởng thức … thử cho biết …

- Sau Marseille, đến Paris, môt nhà buôn khác, năm 1657, Jean de Thévenot, nhập từ Ai cập  một kiện hàng hột cà phê, để làm quà bà con mình, dể bà con mình thưởng thức chất uống lạ !             Khác với trà, một thức uống Đông Phương khác được nhập cảng vào Âu Châu  rất sớm từ Tàu, và đã được dân La mã ghiền gẩm rồi … thiên hạ thời ấy không biết gì về cà phê cả !

    - Thiên hạ ngày nay,  vẫn cho rằng gốc gác cà phê là ở Yémen, bán đảo À Rập. Lầm to ! Cà phê thật sự đến từ Ethiopie. Thế nhưng, sau khi đã đem các hột giống mọc hoang từ Ethiopie về, vào thế kỷ thứ XII, các hột nầy được thuần hóa, được rang, được giả nát thành bột. Đầu tiên là các thầy sư soufis ( Soufisme một nhánh của Đạo Hồi – dùng lên đồng để hành đạo) dùng cà phê để « phê » nhanh – entrée en transe  – lên đồng nhanh (PVS phỏng dịch)…. Bắt đầu thế kỷ XIV, cà phê bắt đầu theo những giòng người đi hành hương la Mecque … và bắt đầu là thức uống thịnh hành của dân Hồi Giáo. Tiếng a rập gọi cà phê là qahwah !

Qahwah  rất thịnh hành với dân Trung Đông từ đấy.

Từ âm qahwah, của a rập ban đầu biến thành caouat, kawa, tiếng lóng của dân Pháp, rồi biến thành  kaouê, kawé rồi biến thành café, coffee, Kaffié, Kaffee -  cà phê, … đi khắp thế giới !

 

Thức Uống khích thích thế Rượu :

 

   Istanbul, ngay năm 1554, hai chủ nhà hàng người Syriens mở một « quán cà phê » đầu tiên, nơi ấy, là nơi tụ tập, khách ngồi lâu, nhâm nhi ly cà phê, nói dóc, hút thuốc, chơi cờ… Thoạt đầu một tiệm, sau đó nhiều tiệm, các « quán cà phê » mở cửa suốt ngày, thay thế những nhà hàng, những tiệm ăn vặt, … Các tửu điếm ở xứ Hồi không có, vì Hồi Giáo cấm uống rượu … Sau Istanbul, phong trào « quán cà phê » lan tràn đến Cairo, Ai cập, rồi Tabriz, rồi Ispahan… chẳng chốc toàn các xứ Ả rập, xứ ảnh hưởng đạo Hồi ... Chỉ trong vòng chưa đầy một trăm năm, các tiệm cà phê mọc đầy đầt Trung Đông – En moins d’un siècle, le café s’était ainsi répandu dans tout le Moyen Orient » Alain Stella (Le Livre du Café-Flamarion – Viết về Càphê nhà sách Flammarion).

   - Và cứ thế, từ thành công nầy đến thành công khác Cà phê lên như diều gặp gió. Thoạt đầu dân buôn xứ Venise nhập cảng, càng ngày càng nhiều Qahwah - Café - Caffé – Coffee – Kahwê - từ Trung Đông. Dân Trung Đông và Arabe phải đi tìm tận Moka (Hải cảng El Mukkha Yémen trên Hồng Hải)  và do đó cà phê càng cao giá khi đến Âu châu.

   Và tại sao phải nhập cảng ? Tại sao mình không trồng lấy ?  Âu châu thiếu chi thuộc địa ? Nhổ trộm cây làm giống ? Mua hột giống ? « ăn cắp » vài gốc, và hột giống thoạt đầu ở Moka, dân Hoà lan đem trồng thử ở đảo Java, Batavia, thuộc địa mình. (Indonesia ngày nay). Và thành công ! Cà phê Hòa lan vượt cà phê Moka … trên thị trường tiêu thụ !

   - Và từ đó, từ ăn cắp nầy đến ăn cắp khác, các hột giống, các cây giống,  các nhánh giống đem trồng thử khắp mọi nơi. Chẳng chốc Moka tiêu tùng, Hòa lan lên hàng số một. Rồi các nhánh, các cây, các hột giống của Hòa Lan cũng được đưa đi trồng mọi nơi !

   - Từ giống phát sanh từ xứ ả rạp arabica … « lang thang cắm dùi » khác nơi, từ xứ sa mạc cát nóng chạy qua trồng xứ nhiệt đới lại hạp phong thổ hơn, rồi lai giống thành giống robusta. … Thoạt đầu từ Indonesia của Hòa Lan nhập đất Pháp, vào đảo Réunion thuộc Pháp, từ Réunion chu du qua Việt Nam ( cũng thuộc Pháp lúc bấy giờ). Đây là giang sơn cafê phương Đông. Riêng về Phương Tây, Nam Mỹ. Thoạt đầu ca phê được Hòa Lan trồng ở Surinam thuộc Hòa Lan, một anh láng giềng người Pháp đẹp trai, ve vãn bà chủ đồn điền người Hòa Lan ăn cắp hột giống đem về Guyane thuộc Pháp trồng quanh vùng Cayenne ( huyền thoại El Gringo). Đầu thế kỷ 20, lại một chuyện tình khác, cũng một gringo khác, người Bồ Đào Nha ve được một cô chủ đồn điền, người Pháp ở Guyane, ăn cắp cây giống cà phê Cayenne, đem về Brazil trồng. Ngày nay Brazil đệ nhứt xuất cảng cà phê trên thế giới.

 

Kết luận :

 

Cà phê là ma túy ! Có người ghiền !  Có người mê ! Cà  phê mê hoặc lòng người ! Có người Phê với Cà Phê ! Quên sao cái thuở, mới lớn, thời sanh viên Sài gòn, … một chiều mưa gió lạnh, ngồi quán cóc ... chờ em, với một điếu Bastos, mơ màng ngồi ngắm những giọt cà phê phin rơi đều, trên đáy cái ly trong… Cà phê đen đậm, uống không đường, nhâm nhi vị đắng, cùng điếu Bastos xanh đậm đà … buổi chiều chạng vạng, ngoài đường trời mưa gió, trong quán một mình … ngồi chờ em ... nhưng em không đến ! Vì em, nói theo Tây,  nhưng ta dịch -  là cho ta ăn thịt thỏM’a posé un lapin ! Em không đến thăm anh trời mưa… Vị đắng Bastos hòa vị đắng ca phê tại một quán cóc. Nhớ đời, 60 năm sau còn nhớ ! Nhớ Sài gòn da diết ! Nhớ trời gió, mưa lạnh, nhớ điếu Bastos xanh, nhớ ly cà phê phin bây giờ không tìm được. Nhớ chờ một em ! Nhưng ai ? Nostalgie quand tu nous tient !

 

 B/ Cách pha cà phê , và uống cà phê:

 

Cách Đông phương :

  Nếu ở Thổ Nhĩ  Kỳ thì nói Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ gọi Cà phê Thổ – Café Turc

 và nếu qua Hy Lạp nên gọi là ca phê Hy Lạp Cà Phê Hy lạp.

Cả hai đều là ca phê pha kiểu đông phương – orientale – PVS tạm dịch là cà phê luộc, hoặc cà phê nấu sôi. Cà phế vớ ở Sài gòn thuở xưa cũng nấu cái kiểu ấy.  Là cho cà phê vào nước và nấu sôi. Cà phê với các chú chệt Sài gòn Chợ lớn hồi xưa nhờ cái vớ hay hay cái vợt không để xác cà phê trộn vào nước. Còn Cà phê turc hay grec đều có xác cà phê trong cái tách.

  Trong một cái nồi nhỏ – tên là cezve, hay ibrik ( turc), hay briki (grec)… Một cái nồi với một cái cán rất dài, chế muổng « cà phê »  loại cà phê « đông phương » - được xay rất nhuyển. Thêm đường, Thêm nước (một tách nước cho một muổng cà phê). Trộn đều, đun sôi, Khi bắt đầu sôi, tắt lửa ngay, không để được trào… Lập lại, tất cả hai lần. Chế ra tách. Chờ cho bột cà phê lắng xuống, thưởng thức. Uống chậm, nhẹ nhàng, không thì ăn xác cà phê ! Il y a autant à boire qu’à manger. Vừa đủ cả uống lẫn ăn ! Người viết đã thưởng thức. Tại Istambul. Không đã, vì quá ngọt ! Và qua hấp tấp, uống cả xác cà phê. Không phải vị mình …

 Cà phê phin :

  Quý vị biết rồi. Hạp vị Việt Nam

Cà phê piston, ép :.

  Expresso –  Thường uống ở các tiệm cà phê. Quý bạn biết cả, ngày nay, thông dụng là máy expresso mua về nhà. Đủ vị, đủ kiểu, sáng, trưa, chiều tối. Đậm nhạt thơm ngon tuỳ lựa chọn !

Cà phê Ý :

  Rất gắt. Đặc biệt chỉ ở Ý. Uống để phê, chứ không đã khát …

Cái nồi ngồi cái cốc

  Không hạp với cá nhơn thằng tui .. . Uống để nhớ. Chỉ có ở những quán người Việt ở Mỹ

Và cà phê Vớ

  Cà phê không ngon, vì nấu caphê chứ chằng lọc, chẳng ép, gì cả.

Cuối cùng Café instantanné :

  Và là cà phê bột trộn nước sôi.

Bột cà phê, một muổng hai muổng, tùy đâm lợt… Nước sôi vừa sôi.

Trộn đều, uống. Sáng trưa chiều tối. Sáng đậm tối lợt…

Sáng cộng điếu thuốc, tối cộng điếu thuốc…  nghe vợ rầy, bác sĩ la, con cằn nhằn … Ra đi là vừa !

 

 C : Các loại cà phê :

 

 Arabica : Đây là loại cà phê thông dụng nhứt thế giới. Trồng ở độ cao 600 trở lên đến 2000 thước. Tên họ « Coffea Arabica » Ít chất caféine hơn các cà  phê khác. Vị nhẹ

Robusta : Gốc gác từ Đông Phi Châu, Brazil-Ba Tây – Indonesia. Tên là «  Coffea Canephora » Được trồng rất nhiều ở Việt Nam. Không cần ở độ cao lắm dưới 600 thước. Vị đậm gắt, vì chứa nhiều caféine – chất cà phê ! Thằng tui không quen, không thích… quá đắng, vì tôi uống không đường !

Moka d’Éthiopie : Trồng ở độ cao khoảng 1200 thước ở Éthiopie, rất ít caféine. Cà phê hoàn toàn 100 % arabica nguyên thủy.

Kính chúc quý bà con thân hữu thưởng thức những ly cà phề đậm đà thân quý

Hồi Nhơn Sơn, Hè 2019

Phan Văn Song

 

 

Bạc Sỉu

posted Aug 2, 2019, 3:27 AM by Andy Nguyen


Chuyện tình của một cô Couventine

posted Jul 28, 2019, 11:46 PM by Andy Nguyen   [ updated Jul 29, 2019, 11:03 PM ]







Papillon

posted Jul 27, 2019, 1:11 AM by Andy Nguyen



2019-07-26 : Ciné Phòng 5 C2 trại tù Cộng Sản Việt Nam T 20

 

Papillon



Phan Văn Song

Kính thưa quý thân hữu,

Kính thưa quý bà con.

Tại sao hôm nay chia sẻ bà con chuyện của Papillon ? Cuốn tiểu thuyết tự thuật của một anh tù khổ sai, vượt ngục thành công ? …Chuyện thiệt hay giả tưởng ? ... Nhưng anh ta kể lại, có thứ có tự có lớp có lang, hấp dẫn ... một cuộc đời, đầy giang hồ, sóng gió của một tay anh chị, du côn, ma- cô, ma cạo, giết người, chuyện thiệt ? Chuyện giả tưởng ? Tự thuật ? hay chuyện của nhiều người được tác giả gom lại, kể thành chuyện mình ? ... Vì anh nói là anh vô tội, nhưng vẫn bị tòa án xử phạt khổ sai, chung thân, bị đày biệt xứ, sang xứ Guyane (thuộc địa Pháp, nay hoàn toàn là một tỉnh hành chánh hải ngoại Pháp – département français d’Outre-Mer, thủ phủ là Cayenne (nơi sản xuất ớt cay nhứt xứ … Tây – piment de Cayenne). Và  câu chuyện của Papillon, gợi tôi nhớ thời, sau ngày mất nước, thằng tui cũng bị tù đày Cộng Sản, ở trại T20, đường Phan Đăng Lưtrước mặt Lăng Ông Bà Chiểu, Gia định, tối tối, cơm tù xong, mở rạp hát, chiếu phim cho các bạn hữu chung tình, chung tội …

Kính thưa quý bà con,

Thằng tui ở tù Cộng Sản từ ngày 10 tháng 7 năm 1976. Ngày ấy, khoảng 11 giờ sáng, giờ Sàigòn, sau hai tiếng đồng hồ thủ tục xuất cảnh và ngồi chờ, tôi đang sắp hàng đi từ phòng khách phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, Việt Nam, đến phi cơ đang chờ ở phi đạo để xuất ngoại, đi Paris, Pháp Quốc. Hành lý đã gởi, mọi thủ tục đã xong từ hồi 9 giờ, đây là lúc sắp hàng đi ra phi cơ ( những năm ấy còn thô sơ không có xe bus chở khách ra phi cơ, phải sắp hàng đi bộ, kẻ kéo, người xách hành lý nhẹ, đến chơn cầu thang máy bay), thì, bổng một chiếc xe jeep lùn trờ đến, với hai Công An, sắc phục áo vàng, với trát tòa, mời ông cựu Giám đốc Hảng Ladze Nước Ngọt BGI Sài gòn, thằng tui, PVS tôi, trở về Bộ kinh tế làm việc, hứa là khi xong việc, sẽ đáp chuyến bay sau - (hành lý, đã gởi rồi, Air France sẽ giữ, chờ tôi ở kho Paris, Pháp). 

Chuyến bay sau ? Là chuyến bay của Air France, 1427 ngày sau ! Ngày 6 tháng 6, 1980, cũng khoảng 11 giờ sáng, nhưng giờ Paris, tôi đến phi trường Orly, Paris, Pháp Quốc. Chuyến du hành dài 1427 ngày đêm nầy bắt đầu ngay sau khi rời phi đạo của phi trường Tân Sơn Nhứt, chiếc jeep lùn đưa tôi về khách sạn Majestic, và nhốt tôi vào một căn phòng khá sang trọng trên lầu một, với quạt máy, với cửa sổ ngó thẳng ra bờ sông Sài gòn. Và tôi bị giam ở đấy từ trưa ngày 10 tháng 7 đến tối ngày 2 tháng 8. Làm việc - nghĩa là hỏi cung - sáng chiều tối, ngày ba bửa, với nhiều cán bộ khác nhau, thường nói chuyện kỹ thuật kinh tế, sản xuất, … ăn uống đàng hoàng cơm canh rau, nước chấm, đúng kiểu việt nam, ăn ba bửa, có bửa cán bộ đến ăn chung, để chứng minh, đồng cam, đồng khổ ... Nhưng bổng nhiên, tối ngày 2 tháng 8, bổng nhiên, rất bất ngờ, họ đổi thái độ, vào khoảng nửa dêm, họ đánh thức  tôi, và đưa về nhà, số 9, đường Thi Sách, đập cửa, thức gia đình dậy. Và trước mặt vợ tôi, hai chị giúp việc cùng chú tài xế, họ đọc bản cáo trạng, xét nhà và đọc trát bắt giam tôi để điều tra về tội phá hoại nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. May quá, vợ tôi, nhơn viên ngoại giao đoàn, làm việc tại Tòa Lãnh sự Pháp tại Sài gòn, nên việc xét nhà cũng qua loa. Vì tôi đã bàn giao tất cả cho người kế nhiệm dưới sự kiểm soát của Ban Quân quản ngày 8 tháng 7 năm 1976, trước đó rồi - tôi đã từ nhiệm từ hôm ngày 8 -  BGI chuyển nhiệm tôi về Pháp để phái tôi đi làm Giám Đốc Công ty Ladze và Nước Ngọt BGI ở Médan Indonesia. Tất cả tiền bạc giấy tờ trong nhà hoàn toàn sở hữu của vợ tôi, không có gì thuộc BGI cả. Cán bộ Công An đành phải, đàng hoàng ghi nhận và buộc vợ tôi ký là không đụng đến sở hữu của vợ tôi ... Họ ngở ngàn, và bối rồi vì tất cả từ báo chí, sách vỡ, giấy tờ đều không có chữ việt…Vợ tôi không nói được tiếng việt, tôi đành phải thông ngôn … ngày nay cũng lại tại sao hôm đó toán Công An bắt tôi sao quá tử tế và đàng hoàng như vậy ? Thủ tục thiệt ngắn gọn ...Vợ tôi sữa soạn, ít đồ dùng mang theo, tôi được phép đi tắm và thay quần áo sạch – từ ngày bị bắt tôi chỉ độc nhứt một bộ đồ mặc khi đi đường. Ở Majestic, tôi giặt áo, giặt quần vào mỗi buổi tối, mặc xà lỏn ngủ, treo trong phòng, sáng khô, thay quần áo, giặc xà lỏn, mặc quần dài, sơ mi làm việc… cứ thế mà xoay vần… Suốt ngày ở khách sạn nên không đi giầy – nên không cần giặt vớ ! Làm việc với chấp pháp (lấy cung) ăn uống, ngủ ngáy tất cã đều trong một căn phòng. Tối ngủ không được tắt đèn, cửa khóa lại, và chắc có người gát - hay không ? thật sự tôi không biết - tôi không màn để ý, mặc sống chết do số Trời  sắp đặt! Tôi là người đi Đạo Cơ Đốc, tin vào cơ Trời luật Chúa ! Lúc ấy, tại sao tôi vẫn ngu dốt ? vẫn nghĩ rằng sau khi … làm việc… xong, nếu xong, chậm trễ gì, tôi sẽ đi chuyến sau – họ đã hứa mà … ! Nhưng tối 2 tháng 8, mới vỡ lẽ, … nhưng biết để làm gì ? Sau ra khi rời nhà, tôi nay đã bị truy tố, tuy chỉ là tạm giam – garde à vue – nhưng vẫn trực thẳng ... biệt giam, phòng 2, trại Trần Hưng Đạo (Cảnh Sát cũ thời VNCH mình) … Kể từ đó,  tôi mất hẳn ngày tháng, có thể lúc đầu ở tù, tôi có theo dõi và có ý thức ngày tháng, nhưng thú thực với quý bà con, tôi, ngày nay không nhớ những ngày tháng trong thời gian ở tù gì gì cả … Tôi vẫn nhớ đến những chuyện, nhiều chuyện, nhưng ngày tháng quên hẳn. Tôi vẫn biết, rằng một phần lớn những năm tháng tù đày, tôi bị nhốt ở T20, đường Phan Đăng Lưu, trước Lăng Ông, chợ Bà Chiểu. Tại T20, có lúc ở biệt giam, có lúc ở các phòng tập thể, thoạt đầu ở Khu C1, những phòng 7, phòng 9… Sau đó tôi bị chuyển qua khu C2, ở các phòng 7, và đặc biệt ở lâu nhứt là phòng 5. Thỉnh thoảng tôi cũng bị đày đi trại cải tạo. Một lần, Suối Máu, nhưng khi đến trại thì họ chở tôi về lại, một lần khác tôi lên An Khê, chỉ ở một ngày, ngủ một đêm, rồi cũng một xe jeep lùn, cũng hai tên bộ đội, áp tải tôi về. Có lẽ họ lầm tên tôi, hay họ hù tui ? Lần ấy, tôi được chu du đi từ An Khê về lại Saigon, chạy xe suốt ngày, tôi ngồi trước, với tài xế, tay không còng, chỉ còng chơn, còng Mỹ bó cườm cẳng, tê cả chơn thế thôi… Tôi cũng bị đưa lao động chiến trường, gánh cơm ở chiến trường Cam bốt Chia, sau Tết 1979, lội bộ tới Neak Lương, ở bên nầy sông, rồi cũng lại được xe jeep lùn chở về lại Phan Đăng Lưu. Do đó tôi được nếm đủ mùi…chia sẻ nỗi và cảnh đau thương với bà con tù nhơn đi đày trại lao động cải tạo một phần nào - có lẽ nhờ bà vợ ở Ngoại Giao đoàn Pháp, nên họ chỉ cho tôi nếm cho biết mùi thế thôi. Do đó, ngày nay tôi mang một tâm trạng mặc cảm, vì tôi được hưởng quá nhiều may mắn, không khổ bằng thiên hạ, nên chẳng dám có gì để huyên hoan kể lễ...

Chuyện tôi muốn chia sẻ với bạn bè là chuyện tôi có tài chiếu phim, kể chuyện phim, trong  tù. Trong tù để qua ngày, chúng tôi hoặc nấu ăn, … nghĩa là kể chuyện ăn uống cho đã thèm… Nhưng đó là cực hình  Vì càng nói miếng ăn lại càng thèm ăn. Sau là chiếu phim – nghĩa là kể chuyện phim … Cao bồi, tình yêu, chưởng, trinh thám ... Tôi chiếu phim bằng kể các chuyện tôi đọc ở các tiểu thuyết loại trinh thám, loại điệp viên,… loại sách không hàn lâm chẳng văn hóa trí thức, thứ tào lao, đọc đở buồn, đọc để tìm giấc ngủ, đọc khi ngồi máy bay, xe đò, xe lửa … chuyện điệp viên hết của người Anh James Bond 007, đến của người Pháp OSS 117, hay SAS … và một trong các chuyện, một cuốn tiểu thuyết tôi vừa đọc xong, trước khi bị bắt, mua ở chợ trời là Papillon. Mà Papillon, dân Sài gon phe ta cũng biết khác bộn, nhờ cuốn phim vừa chiếu rạp Rex vào cuối năm 1974, hay đầu năm 1975 gi đó … Tôi không biết ngày hôm nay các bạn bè nào đã cũng tôi chia sẻ những ngày tăm tối ở phòng 5 T20, còn nhớ những buổi chiếu phim ấy không ? Ở Mỹ có bồ tèo Mai Thanh Truyết, có bạn già Trần Dạ Từ, có chú em Đinh Quang Anh Thái, ở Việt Nam còn bạn A… Anh Thiện Ý năm qua, mình gặp lại nhau ở Houston hình như có nhắc đến chuyện chiếu phim của mình ...Chiếu phim, là để quên cái hiện tại, để hoài niệm cuộc sống Sài gòn năm xưa, đề quên cái nóng, để quên cái đói, để quên cái thằng bộ đội đang gát phòng giam … và  để Sống Còn…

Tuần qua, mở tờ tuần báo Obs quen thuộc, bổng thấy bài phóng sự kỷ niệm 30 năm 1969 2019 cuốn truyện Papillon ra đời. Ký ức bổng sống lại. Bèn thoáng dịch bài viết về Papillon, chia sẻ cùng quý bạn bè thân hữu bà con. Mong rằng cùng nhau chia sẻ, mua vui cũng được một vài trống canh. Cám ơn quý bạn hữu bà con, cô bác.



PAPILLON chuyện thiệt hay giả tưởng !

Đúng một năm sau cuộc Cách mạng Sinh viên tháng Năm 1968, Henri Charrière, một cựu tù khổ sai – bagnard, từ Guyane trở về, viết một cuốn tiểu thuyết kể đời tù khổ sai của mình và trở thành tay cục cưng – coqueluche của xứ Paris – điệu nghệ. Chỉ vài tháng, trên vài TRIỆU cuốn tiểu thuyết Papillon được bán sạch. Truyện được dịch ra nhiều ngôn ngữ, và được cả đạo diễn Franklin Schaffner dựng thành phim do Dustin Hoffman và Steve McQueen thủ vai chánh, Papillon.

Sanh năm 1906 ở Saint Étienne de Lugdarès ( vùng Ardèche) – một xứ khỉ ho cò gáy của xứ Pháp, tương đương với Năm Căn Cà Mau của Việt Nam ta vậy. Hai cha mẹ, Joseph và Marie-Louise đều là giáo viên làng. Là trai út, sau hai người chị, Henri cục cưng của mẹ. Trong truyện Papillon, chàng kể thuở thiếu thời như một bức tranh lý tưởng. « … gia đình lễ giáo, miệng ăn ngon, mồm nói giỏi, hoa thơm, quả lạ, tai nghe chuyện hay… cậu bé hưởng đủ ... » Thế nhưng, năm 1917, mẹ chàng, Marie-Louise, mất đột ngột sau một cơn bạo bệnh. Thế giới lý tưởng của Henri tan vỡ ! Và chàng bắt đầu nổi chứng, chống đối tất cả mọi kỷ luật, và bị đuổi khỏi trường sau một cuộc đánh lộn. Để tránh bị truy tố, cha chàng đưa chàng vào trường thiếu sinh hải quân, mong rằng với kỷ luật quân đội, chàng sẽ đi vào nề nếp. Nhưng Henri là Henri, và chàng làm thế nào đó, Hải quân cũng – thầy chạy chnàg luôn, chẳng muốn giữ chàng lmà gì nữa !  Nhưng, khi giãi ngũ về lại làng, chàng hơn hẳn dân làng quê mùa đồng lứa. Chàng, nay đã « biết giang hồ », chàng nay «  đã có thành tích », là một « tay anh chị ». Thoạt đầu chỉ là một « đầu nậu » thôi, nhưng chẳng chốc biến thành « đại ca » của một nhóm «du đảng » phá làng phá xóm, làm ăn, kiếm chác quanh làng. Nhưng, chẵng chốc mở rộng biên cương lãnh thổ qua những làng bên cạnh. Thế nhưng, những buổi chợ, những buổi liên hoan, khiêu vũ ở xóm, ở làng dù có ngon lành thật, dù có kiếm sống đặng, nhưng đời sống « anh chị thứ thiệt » là ở Paris. Do đó chàng « du Paris » !

Paris :

Đến Paris. Henri phải đi tìm « chổ đứng ». Các sòng cờ bạc vùng Montmartre, các Casino đánh lớn, các trường đua ngựa là những môi trường hoạt động … Đây vài cú « vay mượn », đó vài vụ « cướp dựt », đây « hỏi giấy », nọ thanh toán … Vài đụng chạm với vài tay « anh chị », « đứng bến », « đầu nậu »… Vài cuộc yêu vội vã, hái vài hoa thơm, khi thành thị, lúc miệt vườn… nào hoa hậu bê-tông, nào ngôi sao đồng nội … và cuối cùng, cuộc tình với « Nénette » Georgette Fourel ... và … và ... Vào một đêm tối trời của ngày 26, tháng 03 năm 1930, vào 3 giờ sáng, Roland Legrand, một tên ma-cô tiểu tốt, đứng bến khu Pigalle, khu đèn đỏ nổi tiếng Paris, bổng ngã xuống, bụng đầy máu vì ăn đạn. Trước khi trút hơi thở, hắn khai Papillon đã giết hắn ! Mà Henri cũng được giới giang hồ Paris gọi hắn là Papillon ! Vì Papillon – một con Bướm, được xâm trên ngực Henri vào lúc thiếu thời, khi chàng ở ngục Calvi, trên đảo Corse năm 1920 – Papillon, con bướm, điển hình cho Tư Do, cho con sâu rọm xấu xí, nay đã trưởng thành bướm vàng rực rỡ, tung cánh tự do. Và Henri chối hẳn, không nhận mình hung thủ, bảo rằng Paris lúc bấy giờ rất có nhiều người có tên giang hồ Papillon ! Có thể ! Nhưng cảnh sát chỉ bắt được Henri ! Và hôm ấy chỉ có Papillon - Henri chàng ta là bị cảnh sát tóm cổ thôi! Và dù Henri có kêu oan đi nữa, Toà vẫn không tin và tuyên án khổ sai chung thân Henri vì tội cố sát !




Tù khổ sai – le bagne

Khổ sai - địa ngục trần gian. 13 năm tất cả ! 13 năm và 9 lần vượt ngục ! Vì với Papillon, ngay ngày đầu khi đặt chơn xuống đất tù Guyane, trong đầu Henri đã nổi lên ý chí phải vượt ngục ! Phải tìm tự do ! Để  trả thù, những ai đã buộc tội mình ! Và chứng minh mình vô tội ! Và Papillon, từ đấy, ngày đêm chỉ nuôi ý chí phải vượt ngục !… Và cuốn truyện kéo người đọc một lèo, lôi cuốn. Người đọc chia sẻ, say sưa với cái nỗi ám ảnh của vượt ngục của Henri ! Người đọc theo dõi anh tù khổ sai gan dạ, anh hùng, kẻ cả, được tất cả các tù nhơn khác mến mộ (dĩ nhơn « cái mền » phải được kéo về nhơn vật chánh ) Giọng văn dí dỏm, lôi cuốn, đầy cảm tình với tác giả. Khổ thì khổ đấy, nhưng những cái nhìn của Henri Papillon không uất hận, trái lại đầy tình người, khi tả cái cảnh phải làm việc cùng các bạn tù « cùi », khi nhìn thấy anh bạn cùi « rụng một ngón tay », mà vẫn tỉnh bơ ...  Hay khi sống với đám thổ dân Gualiros. Kể chuyện trong một lần vượt ngục, chàng tắp vào đảo của các thổ dân ấy, được nuôi sống và được cả người tù trưởng gả cả hai người con cho làm vợ. Chàng nếm được tình yêu và nhục dục nơi các cô thiếu nữ, chuyên nghề lặn vớt hột trai – pearl. Hai nàng thanh nữ, một khoảng 16 đến 18, và một cở 13/14 tuổi. Với « … hai quả đào chỉ to bằng hai quả quýt »… Lâm ly, ướt át, như những loại tiểu thuyết hạng hai.

Còn những chuyện vượt ngục ? Toàn chuyện ngoài sức tưởng tượng ? Thiệt ? Giả ? Hoàn toàn xạo ? Thêm mắm thêm muối ?  Có có không không ! Chả sao ! Nào chuyện Papillon vượt với môt chiếc bè đóng bí mật trong một nghĩa địa, nào chuyện Papillon bắt cóc một giám đốc nhà tù, trong một buổi thánh lễ tại nhà thờ, dùng áp lực để vượt ngục, nào chuyện Papillon, đánh thuốc ngủ anh cai ngục, nào chuyện Papillon dùng thuốc nổ phá tường ngục ... Mọi thất bại đều chuốc những hình phạt nặng nề, dã man, gông cùm, …. Nhốt nhà kín – cachot, réclusion là một hình phạt ghê rợn nhứt ! - Cộng Sản Việt Nam, ghê rợn nhứt là nhốt connex, tủ sắt ... Papillon đáng lý phải bị nhốt trong một phòng kín, nhỏ xíu, không ánh sáng, 8 năm ! Và nếu vậy, chắc chắn rằng nơi ấy sẽ là mồ huyệt của chàng. May mắn thay, mầu nhiệm thay, một hôm, một trong những buổi được phép ra « tắm nắng », chàng nhảy xuống biển đầy cá mập để cứu một em bé gái con một quan chức chẳng may trợt chơn rơi xuống biển. Nhờ hành động dũng cảm nầy, án nhà kín được tạm ngưng. Và dĩ nhiên, cái án treo «  nhà kín » ấy cũng không chàng chồn chơn. Và chàng lại vẫn tiếp tục mơ vượt ngục. Cuối cùng, bị đày ra đảo Ma Quỷ – l’île du Diable. Ở đấy, cùng một người bạn, hai chàng vượt ngục trên những chiếc bè gồm những bao cát, đầy dừa khô kết lại ...Và … và …  cuối cùng chàng thành công năm 1944 ! Thở phào, mừng cho Henri !



Đổi cảnh, đổi đời :

Một cuộc đời mới bắt đầu. Ở tuổi 38, ở Venezuela, Henri làm việc ở một công ty dầu hỏa một thời gian. Sau đó, chàng làm quản trị cho một khách sạn cùng cô bạn mới, Rita. Ít lâu sau, hai người đồng quản trị một khách sạn, tên Vera Cruz tại thành phố Maracaibo, 80 cây số cách biên giới Colombie … Cuộc sống của chàng nay tạm ổn định ! Nhưng phép mầu nhiệm nào biến tên tù vượt ngục thành một tác giả của một best-seller ? Giai thoại kể rằng năm 1967, Henri Charrière, đi ngang qua một tiệm sách Pháp ngữ ở Caracas. Trong quầy sách bày cuốn tiểu thuyết « L’Astragale » tác giả Albertine Sarrazin, với lời giới thiệu rằng đây là chuyện do một cựu phạm nhơn vượt ngục viết, và với giòng tiếp theo là xuất bản tại Paris 123 000 bản.  Henri Charrière nhà ta, tò mò mua và đọc. Đọc xong, bỏ sách xuống, chàng chê và tuyên bố  « chuyện chỉ như vậy mà bán được 123 000 cuốn, chuyện mình chắc chắn sẽ bán ba lần hơn ! ». Và chàng bắt tay vào việc. Mỗi ngày, sau quầy hàng tiệm rượu Scoth-Club, tiệm đang nuôi sống chàng và vợ chàng… chàng miệt mài viết.  6 tháng, 13 cuốn vỡ học trò.

Viết xong, chàng gởi đến nhà xuất bản của tác giả Albertine Sarrazin, Jean-Jacques Pauvert. Thế nhưng, Jean-Jacques Pauvert đã bị phá sản. Người phụ tá thân cận nhứt của của Jean-Jacques Pauvert, Jean-Pierre Castelnau, đọc được bản thảo của Henri, thích quá, bèn cầm bản viết tay của Charrière đi tìm Jean François Revel, nhà Giáo, nhà Triết học nổi tiếng thời bấy giờ, để chia sẻ cái hào hức của mình và nhờ ông Giáo sư giới thiệu cùng đến gặp Robert Laffont, chủ nhà xuất bản sách số một Paris thời bấy giờ. Sau đây là hồi ký của cô con gái của Robert Laffont, Anne Carrière, nay cũng là một nhà xuất bản, kể lại : « Lúc ấy, cha chúng tôi ở Neuilly, (ngoại ô sang trọng phía Tây Paris), và tôi nhớ mãi, cái hôm ông đang ngồi đọc bản thảo tay của Charrière, ngoài vườn. Tôi đến gần ông (Anne năm ấy 20 tuổi), ông ngẩn đầu lên, và nói : « Cuốn truyện nầy thật quá hấp dẫn ; chắc chắn ta sẽ vượt con số bán là 10 ngàn cuốn ! ». Và Ông bán một triệu cuốn ».

Ông quyết định cho xuất bản ngay. Giữa ông và tác giả không gì trục trặc, ngoài cái tựa. Ông quyết định dùng tựa là Papillon. Papillon không chịu. Nhứt định phải là « Con đường đầy  nhục nhã – Le chemin de la pourriture ». Vincent Didier, người từng viết tiểu sử của Henri Charrière, (Papillon libéré – Con bướm được tự do nxb La Fontaine de Siloé) chứng nhơn vụ đặt tên cuốn tiểu thuyết ấy : «  Charrière giận dữ đứng dậy, nắm cà vạt nhà xuất bản, thốt : «  Không được dùng tên Papillon ». Một lúc sau  Robert Laffont, nhờ tôi hỏi Charrière tại sao tên Papillon tạo sự giận dữ như vậy. Charrière trả lời, cái tên Papillon nhắc hắn ta một quá khứ quá đau buồn của thời niên thiếu ». Cuối cùng Robert Laffont cũng đạt được ý muốn nhờ can thiệp của Rita, cô vợ của Charrière. Theo nàng, nhà xuất bản có lý.  Cuốn tiểu thuyết Papillon ra mắt độc giả tháng 5/1969. Ngay tuần lễ đầu đã là 300 000 cuốn rồi, bán sạch, tuần sau, vượt 400 000 và vào giữa hè năm ấy con số xuất bản tròn chẳn Một Triệu cuốn !

Ngay những ngày đầu, thành công đã rực rở, các nhà nhận định đều khen ngợi. Chỉ trong vài tuần lễ, tiểu thuyết Papillon, số một thống kê số sách bán, hạ cả số bán của sách trúng Giải Goncourt « Creezy » của Félicien Marceau. Charrière từ nay, là con cưng của giới bãnh Paris. Được mời mọi nơi, nhưng vẫn còn những vụng về của tay, tuy anh chị, nhưng còn nhà quê. Anne Carrière kể :  « Ba  tôi (nhà xuất bản Robert Laffont) tổ chức một buổi cơm trưa, mời khoảng 15 nhà ký giả gộc đến gặp Papillon, trong một tiệm ăn sang trọng ở Paris. Tôi (Anne Carrière) ngồi không xa Papillon lắm. Món ăn đầu là cá, và như thường lệ trong các loại nhà hàng nầy, nhà hàng dọn ra một cái chén nhỏ đựng nước với một lát chanh để rửa các ngón tay – rince doigts – Anh chàng Charrière, đúng dân nhà quê, chưa bao giờ thấy một cái rince doigts, và cũng không biết thông dụng, bèn bưng cái chén nhỏ và húp. Do đó, tôi cũng phải làm như vậy, ba tôi cũng làm theo, và mọi người đều bưng chén nước và húp ».

Nhờ có duyên, và tài kể chuyện, Henri Charrière chinh phục từ người dân thường đến những tài tử ngôi sao, hay người quý phái. Henri được chụp hình cạnh Françoise Hardy, Johny Halliday hay Brigitte Bardot. Dĩ nhiên có bề mặt cũng có bề trái, Charrière bắt đầu bị ganh tỵ, ghen ghét … năm 1970, đã có vài cuốn sách ra chống chàng. Nhưng chàng, lờ cả, cho pha hết, và bắt đầu thoải mái với cái nghề mới của mình. Năm 70, chàng viết kịch bản - scenario cho cuốn phim « Popsy Pop » và đóng phim cạnh Claudia Cardinale, cho ra đời hai dỉa hát «  Papillon kể những chuyện kỳ diệu về các người bạn indiens cho các trẻ Papillon raconte aux enfants les merveilleuses histoires de ses amis indiens » và để chống những người còn nghi ngờ tài nghệ mình, chàng viết cuốn tiểu thuyết « Banco » năm 1973. « Papillon như một đứa trẻ con, với đôi mắt mở to, mê mẫn trước tất cả những sang trọng – Il témoignait devant le luxe, d’un émerveillement d’enfant ! » Robert Laffont nhận xét về cái ngây thơ thật tình của Henri trước sự thành công.

Một hôm, hai người cần phải đi New York, Henri buộc nhà xuất bản phải mua cho mình ghế máy bay hạng business – business class ! Nhờ đó mà, vô tình, Robert Laffond ngồi cạnh nhà sản xuất phim của đạo diễn J. Schaffner tác giả sắp sữa dựng phim Papillon với Dustin Hoffman và với Steve Mc Queen trong vai chánh Papillon. Khi xuống New York, Charrière vừa chưởi thề vừa nói với nhà sản xuất : «  Tu vois, couillon, celui-là, c’est pas en économique que tu l’as rencontréĐM, nếu đi hạng chót làm sao gặp tên nầy ! ». Henri Charrière mất năm 1973, khi cuốn phim được ra lò. Đời của Charrière đến phút cuối vẫn hư thực lẫn lộn như một cuốn phim.

Phỏng theo bài phóng sự của Elisabeth Philippe tuần báo OBS số 2853 tuần 11 đến 17 072019.

TB : Cuối năm 1980, tôi được Robert Despierres, anh bạn Pháp, sanh ở Việt Nam, quen nhau từ Sài gòn, rủ tôi nhận công tác dắt một đoàn 80 người Hmong,  tỵ nạn Cộng Sản qua lập nghiệp ở Guyane. Do đó tôi được dịp công tác và du lịch 6 tháng ở Guyane. Tôi có viếng Cayenne thủ phủ, Đảo Ma Quỷ - île du Diable, xem những di tích của trại khổ sai …. Do đó thỏa mãn một cái tò mò và cũng là … Một tình cờ thú vị !

Hồi Nhơn Sơn, những ngày nóng « chó ngáp » canicule 2019

Phan Văn Song 

Activities for Father's Day

posted Jun 14, 2019, 2:49 AM by Andy Nguyen


Bạn bị đau xương khớp cổ vai gáy, đau lưng và đầu gối? Bạn đang tìm một bài tập thể dục giúp phòng và chữa bệnh này? Đây chính là gợi ý tuyệt vời nhất mà bạn nên thử tập ngay.

posted Nov 28, 2018, 7:57 PM by Andy Nguyen

Bệnh xương khớp được xem là một trong những căn bệnh phổ biến, càng ngày càng trẻ hóa với tỉ lệ người mắc bệnh tăng cao. Nhưng do các dấu hiệu bệnh xuất hiện ở mức từ nhẹ đến nặng, từ không rõ ràng đến đau đớn có trải qua một quãng thời gian khá dài nên nhiều người hầu như không để ý, thậm chí coi nhẹ căn bệnh nguy hiểm này.
Tuy nhiên theo các chuyên gia sức khỏe, đây là căn bệnh có thể làm giảm chất lượng sống, gây đau đớn và rất khó để điều trị triệt để trong khi bệnh có xu hướng nặng lên theo thời gian. Cách tốt nhất để giải quyết các chứng đau xương khớp chính là tập thể dục.
Trong muôn vàn bài tập, bạn biết chọn tập động tác nào khi thời gian có hạn mà lại muốn tăng nhanh hiệu quả tập luyện? Hãy tham khảo 5 động tác đơn giản dưới đây. Nếu bạn muốn cải thiện các chứng đau, việc của bạn là phải kiên trì tập, sáng và tối hoặc bất kỳ lúc nào rảnh rỗi.
Bệnh đau cổ vai gáy, đau lưng hay đầu gối… không chỉ tác động tại điểm đau, mà còn là nguyên nhân gây ra các bệnh khác như đau đầu chóng mặt, ù tai, đi lại khó khăn, vóc dáng vì ảnh hưởng, khiến cho người bệnh khó chịu và khổ sở.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 1.
Bài tập sau đây được xem là thuốc "giảm đau" cho những người bị bệnh về xương khớp
1. Bài tập chữa đau đốt sống cổ
Mỗi ngày bạn nên tập động tác này đều đặn, vừa đi bộ vừa giơ tay lên cao. Đi khoảng 200 bước.
Bài tập này có tác dụng phòng và trị bệnh đau cổ. Ngoài ra, trong khi làm việc, cứ ngồi 1 giờ đồng hồ, bạn nên dừng lại hoạt động một chút, tập xoay vai cổ, bất kỳ lúc nào rảnh có thể xoa bóp vùng cổ, xoa cho đến khi nóng ấm vùng da bên ngoài là sẽ có hiệu quả.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 2.
2. Bài tập chữa đau đốt sống lưng
Bị đau đốt sống lưng, khó chịu vùng lưng dưới, người mỏi thường xuyên, bạn có thể tập động tác này. Người muốn phòng bệnh cũng nên tập, vừa tránh bệnh, vừa đẹp dáng.
Thay đổi chân khi tập, lặp lại 50 lần. Mỗi ngày tập 2 lần vào buổi sáng và tối.
Khi tập động tác đá chân ra sau, có thể cảm thấy vùng lưng dưới hơi đau một chút. Nếu người bị đau nhiều hoặc muốn tăng hiệu quả nhanh, nên tập bất kỳ thời gian nào trong ngày, bất kỳ nơi nào bạn đứng và có thời gian rảnh. Đá chân khoảng 100 cái.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 3.
3. Bài tập bảo vệ các khớp
Thực hiện động tác đứng dựa vào tường hoặc một mặt phẳng, ngồi xuống đứng lên khoảng 30 lần. Có thể tập 2 lần vào sáng và tối.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 4.
4. Bài tập chữa đau đầu gối
Khi bị đau đầu gối, mỏi hoặc khó chịu, kể cả người đi lại nhiều, ngồi nhiều, muốn phòng chữa đau đầu gối có thể thực hiện động tác vỗ đầu gối bằng cách dùng 2 tay vỗ nhẹ vào phía trước đầu gối, phía 2 bên và phía sau. Mỗi một vị trí quanh đầu gối nên vỗ nhẹ khoảng 30 cái.
Việc vỗ đầu gối tưởng đơn giản nhưng nếu làm thường xuyên, sẽ giúp cho các kinh mạch và mạch máu được kích thích, giúp chúng hoạt động hiệu quả, máu lưu thông thuận lợi, giúp tăng cường và sản xuất dịch ở xương khớp.
Khi bạn ngồi trên xe ô tô hoặc ngồi xem ti vi cũng có thể xoa bóp vùng đùi, chân, đầu gối, việc này vô cùng hữu ích trong việc giúp sản sinh dịch cung cấp cho khớp và tuần hoàn máu nhanh hơn, giảm đau hiệu quả.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 5.
5. Bài tập chữa đau xương hông
Đứng thẳng người, dang hay tay ngang sang hai bên thẳng bằng vai. Đứng một chân làm trụ, nhấc chân còn lại đá sang hai bên.. Mỗi lần tập tối thiểu kéo dài khoảng 1 phút, mỗi ngày nên tập từ 2-3 lần.
Ngoài ra, hàng ngày, bất kỳ khi nào bạn rảnh rỗi, đều nên vỗ vào vùng xương hông nhẹ nhàng. Mỗi lần vỗ khoảng 80 cái, đây là cách tốt nhất để giảm tình trạng đau mỏi.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 6.
Hầu hết các cơn đau trong cơ thể là do tình trạng bị nhiễm lạnh và ẩm ướt gây ra, từ đó lưu thông máu không tốt, và cơn đau sẽ được tạo ra theo thời gian. Cách tốt nhất để thực sự giải quyết cơn đau là:
- Ít ngồi hơn
- Chơi nhiều môn thể thao hơn.
Tóm lại, nghe nói đến bệnh xương khớp, sẽ không khiến bạn sợ hãi ngay lập tức, nhưng nếu mắc bệnh, rất khó điều trị, giảm chất lượng sống, ảnh hưởng sinh hoạt và công việc cũng như tuổi thọ. Vì vậy, hãy siêng năng chăm sóc cơ thể hàng ngày để phòng bệnh.. Nếu có bệnh, càng phải chăm sóc tốt hơn.
Nếu thấy bài viết bổ ích, hãy chia sẻ cho bạn bè của bạn.

Nhớ Ngày Nào - Hier Encore

posted Oct 12, 2018, 11:45 PM by Andy Nguyen   [ updated Oct 12, 2018, 11:47 PM ]





Aux yersiniennes , yersiniens et amies, amis,
Qui a un jour aimé, chanté, ... 
un peu, beaucoup, passionnément
Charles Azenavour ....
Regrets pour le grand Charles
ou regrets pour tes vingt ans...
Pleurer pour Charles 
ou pleurer pour tes vingt ans désormais ... disparus !!

PVS



2018-10-12 :  Buồn Tiếc Charles Azenavour Người Bạn Đời :
 
Nhớ Ngày Nào - Hier Encore

Charles Aznavour và những bài hát chia sẻ những chặng đường.
 
 
Phan Văn Song
 
Tuần qua ở Paris, chúng tôi, ông nội cùng bà nội, túc trực cạnh con nhỏ cháu nội thứ hai, 20 tuổi, đang phục hồi sau cuộc giải phẩu tim mạch, tại bệnh viện Georges Pompidou. Cháu, vốn bị bẩm tật tim mạch từ mới lọt lòng, tuy sanh thiếu tháng - 6 tháng, chỉ nặng chưa đầy một ký lô, thế mà nhờ khoa học, sống được. Được giải phẩu lúc ba tháng để sửa ống, sửa tim, chữa bộ máy tuần hoàn, nên sống đầy đủ sức khỏe đến ngày nay. Nay cháu, 20 tuổi, phải sửa chữa định kỳ, thay ống thay van tim mạch trở lại. Ba mẹ cháu, công chuyện làm ăn xa, không thể có mặt. Thời khóa biểu nhà thương và bịnh tình không thể thay đổi. Chúng tôi, ông nội bà nội, hai cháu, chị hai và em tư của cháu, quay quần túc trực thay thế. Ba mẹ cháu, hai ngày sau, có mặt đầy đủ ! Khoa học ngày nay thần kỳ, mổ mở toang lồng ngực ngày thứ năm, thế mà thứ ba sau, đã rút ống truyền thuốc, và đã đi lại tới lui không cần nhờ ai cả, và qua ngày Chúa Nhựt, 10 ngày sau đã được xuất viện, về nhà và thứ hai sau nhập viện thể dục phục hồi ! Hoan hô nền khoa học âu mỹ ngày nay ! Và buồn cho người dân Việt Nam vẫn tiếp tục sống trong chậm tiến và lạc hậu !
Đang lúc ngồi không, cạnh cháu, bổng nghe tin ca sĩ Azenavour mất. Biết rằng đời người ngắn ngủi, ca sĩ  cũng đã 94 tuổi rồi, nhưng mình vẫn buồn, Azenavour ra đi, mang theo một giòng đời, và cả một mảng trời đầy kỷ niệm, đầy nhớ nhung, một phần của quá khứ ! Tuổi trẻ cá nhơn thằng tui thật sự nay đã biến dần vào quên lảng...
Chỉ còn những bài hát …
 
Charles Azenavour, người ca sĩ với những bài ca bất hủ, một ca sĩ với những bài hát đã theo cạnh thằng tôi, đi chung cùng suốt những chặng đường đời, tình cảm của thằng tôi… Từ tuổi mới dậy thì, biết cảm xúc, yêu thầm, nhớ trộm, của những năm cuối trung học, 59/60 ở Dalat đã cận kề với bài hát Xin thề - Sur Ma Vie rồi – dù chỉ những cuộc tình viễn vông, loại « lòng tôi chôn một khối tình… (Sonnet d’Arvers dịch bởi Khái Hưng) - đến thời sanh viên nơi xứ Pháp, vương vấn với những lời ca của : Em thật quá bỏ bê - Tu te laisses aller, đầy trách móc, hoặc : Tôi đã tưởng thế rồi - Je me voyais déjà, đầy tưởng tượng mơ mộng hảo huyền với giấc mơ thành công, hay ám ảnh với lời ca của Một chuyện tình ở Trousse Chemise - Trousse Chemise, tả gần đúng tâm trạng cá nhơn với một chuyên tình thiệt,  mà mình đang sống trong đau khổ, tương tư để rồi kết luận, với lời ca của : Tình Yêu là như một ngày đang trôi qua - L’amour c’est comme un jour, đầy triết lý trong cuộcsốnghằng ngàyVàNhớ ngày nào - Hier encore ? Tha thiết hoặc Ai – Qui ? Phách lối. Hay Và Anh đang ngồi trong góc tối - Et moi dans mon coin… ? Đầy than vản, khổ đau. Mỗi bài đều tả đúng, đều gặp đúng tâm hồn và thời điểm của tâm trạng người nghe, đúng thời đúng lúc, của tuổi trẻ chúng tôi, vui khi gặp tình yêu, hay buồn lúc thất tình, bị nàng bỏ …
Nhưng ngày nay, với tuổi già, mình cũng tự hỏi : tâm trạng gặp bài ca, hay bài ca gặp tâm trạng ?
 
Azenavour là một thiên tài… vượt cả số phận, mặc cảm. Gốc dân tỵ nạn, với một cái tên không giống Pháp, nhỏ con, xấu trai, thiếu thước tấc, lùn chỉ 1 thước 65, thế mà diễn viên màn ảnh, ca sĩ mà không có giọng, lên xuống chỉ 3 octaves, lại khàn nữa - (báo chí, thuở ấy, ngạo báng gọi chàng là l’enroué vers or – anh khàn đi tìm vàng, nhại câu la rouée vers l’or – cuộc chạy đua tìm vàng)… Nhưng nhờ ý chí, luôn luôn cố gắng, siêng năng miệt mài làm việc… và dĩ nhiên cũng nhờ sáng tạo, tánh tình dễ thương, khiêm nhường, quý đàn anh, nhường đàn em,nên được nhiều quới nhơn  nghệ sĩ hay thương gia, thương và giúp đở ! Một gương sáng cho những người gốc tỵ nạn như người Việt chúng ta ngày nay !
 
Charles Azenavour
Shahnourh Varinag Aznavourian, sanh trong một nhà bảo sanh cho người nghèoNhà bảo sanh Tranier, số 89, đường Assas, quận 6, thành phố Paris, trong một gia đình nghệ sĩ nghèo gốc tỵ nạn, ngụ tại đường Monsieur le Prince. Người cha, tên Mamigon, tục danh Micha, cho dễ gọi,Aznavouriannghệ sĩ, thuộc cộng đồng Arménie, ở xứ Géorgie – thuộc Liên SôNgười mẹ, Knar Baghdassarian, lại thuộc gia đình khá giả thương mại của cộng đồng Arménie ở Thổ Nhỉ Kỳ. Hai người gặp nhau và thương nhau ở Constantinople, Thổ Nhỉ Kỳ. Micha, chàng đang biểu diễn trên sân khấu và nàng, Knar nhà báo chuyên nghiệp kịch ảnh, họ thương nhau và cưới nhau. Chàng 24 tuổi, nàng 18. Hai người đến Paris, ngụ tạm chờ visas đi Huê kỳ, lập nghiệp, chẳng may nàng đập bầu, cả  hai kẹt lại Paris. Hôm sanh, vì nhơn viên hộ tịch viết không được tên Shahnourh hay Chahnour, vã lại tên nầy không có trong các tên Pháp, nên bèn viết tên thằng bé sơ sanh là Charles. Thế là Charles Azenavourian ! Sau nầy ca sĩ Charles Azenavour bất diệt ! (Wikipédia)
 
Nhớ Ngày Nào - Hier encore
Hier encore, j'avais vingt ans, je caressais le temps
J'ai joué de la vie
Comme on joue de l'amour et je vivais la nuit
Sans compter sur mes jours qui fuyaient dans le temps
J'ai fait tant de projets qui sont restés en l'air
J'ai fondé tant d'espoirs qui se sont envolés …
 
Nhớ ngày nào tôi vừa hai mươi tuổi,
Tôi giởn với thời gian, tôi chơi với cuộc đời
Như tôi đùa với tình yêu. Và tôi sống vào đêm
Quên hẳn buổi ban ngày, đang đi dần vào quá khứ
Tôi dệt chuyện thần tiên, tôi thêu bao mộng mơ bay dần vào ảo tưởng …
 
Bài hát Hier encore – Nhớ ngày nào của Charles Azenavour ám ảnh tôi, đeo đuổi mãi tôi từ ngày tôi về hưu. Thỉnh thoảng tôi lãi nhãi ngâm ca. Nhớ tuổi trẻ, nhớ ngày xưa, Sàigòn Hòn Ngọc Viễn Đông, Chợ Tân Định, Đất Hộ, Đakao của thuở thiếu thời. Dalat của những năm thiếu niên nội trú từ 1952 đến 1961, trường Thiếu Sinh Quân ở Cité des Pics-Sân Cù, hay các trường Lycées Yersin, tiểu học Petit Lycée ở cạnh Nhà Đèn và trung học Grand Lycée ở cạnh Nha Địa Dư … Hay thời thanh niên du học tại Pháp … Hay Sài gòn, tuy khó khăn, tuy chiến tranh, nhưng đầy sức sống của những năm 70-75...
 
Tôi xin kể một thời … - Je vous parle d’un temps…
Bài hát La bohème, - Thời của Bụi đời
 
Je vous parle d'un temps
Que les moins de vingt ans
Ne peuvent pas connaître ...
 
Tôi xin kể một thời mà
những người tuổi dưới hai mươi
không thể biết được …
 
Bài hát nhắc nhở chúng tôi, chúng ta, thuở thiếu thời, nhắc nhở thuở hàn vi của mỗi chúng ta, nghệ sĩ hay không, công nhơn, hay công chức đều phải trãi qua. Thuở học sanh, thuở sanh viên, thời đang học nghề, thời mới ra nghề, ai không thiếu tiền, ai không sống khổ, bụi đời, ai không kiếm thêm việc làm, làm một lúc, thêm một hai công việc là thường tình. Có kẻ chạy bàn, rửa chén, làm việc ở các tiệm ăn, có kẻ chạy tắc xi, ở Việt Nam cũng có cả người đạp xích lô, hoặc dậy sớm đi bỏ báo, hoặc kèm học trò, dạy thêm tại các trường tư thục ... Bọn chúng tôi, thuở ấy ở Âu tây, Pháp, mùa hè về Nam đi theo dần mùa nho chín tim việc – miền Nam Pháp nho chín sớm hơn miền Bắc -  hoặc vượt Biển Manche, hái dâu ở Anh, hoặc làm việc cho các trại hè, giữ trẻ tắm biển, hoặc chạy bàn các quán ăn mùa hè hoặc bán cà rem, bán bóng bóng dạo ... mùa đông lên núi, chạy bàn các tiệm ăn, quét tuyết… Trong năm học, các sanh viên còn có thêm nghề dạy kèm. Ở Sàigòn, thời tuổi trẻ chúng tôi, cha mẹ nào cũng muốn con học giỏi cả, nên nghề đi dạy kèm dễ kiếm hơn bên Pháp. Vã lại ở Pháp, nếu kèm Toán, sanh viên Việt ta, may ra có khách… còn kèm Văn như Pháp và Anh thì các phụ huynh tìm người Pháp hơn, chỉ còn chạy bàn và rửa chén. Cá nhơn thằng tôi, trong hai năm liền, mùa Đông 62 và 63 tôi làm phu lhuân vác ở chợ sỉ Arnaud Bernard ở Toulouse. Sáng 3 giờ nhóm chợ, phải có mặt lãnh chuyển hàng từ chợ sỉ qua xe người mua lẻ. Với một xe đẩy – phải thuê - đi theo anh mua lẻ, đến các hàng sỉ lãnh hàng đem về xe anh mua lẻ, và ăn tiền pourboire - tùy hỷ. Chợ nhóm 3 giờ sáng, tan 5 giờ,  thằng tôi chuyên hàng trái cây. Hàng thịt, cá nặng nề lắm, sức Việt Nam ta làm không nổi. Nếu biết chịu khó, tiền thưởng nhiều, khi lãnh hàng cho khách, mình có quyền lựa hàng dùm khách, trái cây nào có bề mặt yếu, có tỳ có vết, không lấy, chỉ lấy hàng tốt cho khách người mua lẻ. Dần dân mình có khách quen, khách mua lẻ, tin cậy, đi đặt hàng trước, xong giao listing, mình cứ thế mà chuyển hàng lên xe người khách của mình, không cần có mặt của chủ nữa. Còn phiá sỉ, những trái cây, hoa quả, yêú mặt, không bán được, chở về vô ích, bèn họ cho mình mang về. Thằng tôi đem tặng cho ông bà chủ tiệm ăn sáng để ông bả hoặc bán làm tráng miệng, hoặc làm mứt để khách ăn sáng. Trái lại, ông bả cho mình sử dụng phòng tắm và cho mình ăn sáng chùa. Nhờ ông chủ bà chủ tiệm ăn ấy, tôi mập mạp và mạnh khỏe lên, lên cân vù vù. Năm đầu đến Pháp, bệnh hoạn, năm sau, nhờ đi làm chợ, mạnh khỏe hơn, lại kiếm thêm tiền, sống thoải mái hơn.
Ông bà chủ dạy ăn sáng bằng thịt bò sống bằm nhuyễn, steak tartare, bánh mì bơ mặn, uống sữa tươi, thêm fromage mứt, trái cây… Thoạt đầu tôi ăn ít dần dần tôi ăn nhiểu hơn, nhờ đó lên cân. Tắm rữa, xong về nhà thay quần áo là đến giờ đi học. Sáng Luật chiều Chánh trị học. Tối ngủ sớm 20 giờ vào giường, trưa thế nào cũng về nhà, siesta ít lắm là nửa giờ. Từ dạo ấy tôi quen ngủ trưa đến bây giờ, không bỏ được.
 
Đấy là thời La Bohème của tôi … Sau hè năm 64, đâu bằng Sciences Po Chánh Trị học xong, vì đi dạy học, nên nghỉ làm chợ. Có vài mùa hè, dù đi làm rồi, tuy nghỉ hè có lương, tôi vẫn kiếm thêm việc làm. Có những năm, vào hè, gặp dịp, tôi làm bồi, chạy bàn café, dùm anh bạn một tuần, hai tuần thay cho anh bạn đi nghỉ hè. Bạn tôi, chuyên nghiệp nghề nầy tời thuở trẻ, chuyên ở suất giờ khó tìm người làm nhứt, suất từ 21 đến 5 giờ sáng. Giờ ấy tuy mệt, nhưng ngon ăn lắm, vì tiền « bo - pourboire » nhiều lắm! Những lý do : giờ 22/24 là giờ dân đi ciné về, thích nhậu đêm ăn tối, suất 1 đến 2 giờ sáng là dân đi nhảy đầm ra, suất 3/4 giờ sáng, các em đứng đường về cùng với dân bảo vệ (toàn các tay anh chị, đầu nậu dân chơi giang hồ tứ chiến) nên họ rất hào hoa. Được hầu hạ tốt, và khi biết mình là dân sanh viên nghèo nhưng biết siêng năng làm việc, họ thông cảm, biết mình cực khổ, thức khuya làm việc trong lúc họ thoải mái đi chơi, nên chi tiền « bo » rất hậu hỉnh ! Ở Pháp,  thuở ấy, những chưn bồi chạy bàn café - garçon de café – là những chổ hái ra tiền, một chưn như vậy đều phải mua của người trước, toàn giới thiệu nhau cả. Người bồi là bạn quen với mình, mới dám giao chổ cho mình, vì mình là sanh viên, không chuyên nghiệp, không thể giựt chổ, anh « nhờ » mình thế chổ của anh làm, khi 1 tuần, khi 15 ngày mùa hè, để anh đi nghỉ hè. Lương anh trả cho mình, tiền « bo » mình lấy. Ông chủ không trả lương mình, vì đã trả lương cho ảnh rồi, chỉ cho mình ăn uống như ông ta đã nuôi ăn anh làm công của ổng thôi ! Dĩ nhiên ông chủ Café cũng đã thử tài của mình trước khi chấp nhận mình … tiệm café restaurant ấy – Chez le Père Léon ở Place Esquirol lớn nhứt ở Toulouse thời ấy, nay vẫn còn, vẫn mở cửa từ 6 giờ sáng đến 5 giờ sáng hôm sau. Chỉ đóng cửa có 1 tiếng đê dọn dẹp chùi rửa thôi.  Tôi vẫn tiếp tục thay thế anh bạn ấy đến năm cuối khi đã bgiảng viên Đại học và đang làm Tiến Sĩ. Thật là thời của La Bohème của thằng tôi :
 
La bohème, la bohème
Ça voulait dire
On est heureux
La bohème, la bohème
Nous ne mangions qu'un jour sur deux ...
 
Thuở bụi đời, thuở bụi đời,
Là thuở vô tư, là thời hạnh phúc
Thuở bụi đời, thuở bụi đời
Dù phải ngày đói, ngày no ...
 
Chuyện tình Trousse-Chemise – Trousse-Chemise
Dans le petit bois de Trousse chemise
Quand la mer est grise et qu'on l'est un peu
Dans le petit bois de Trousse chemise

On fait des bêtises souviens-toi nous deux ...
 
Trong một cánh rừng ở Trousse Chemise
Khi biển chuyển màu xám và đôi ta cũng ngây say
Trong cánh rừng Trousse Chemise,
Và hai ta lở dại với nhau …
 
Cá nhơn thằng tôi, gặp bài hát đúng thời đúng lúc, bài nầy ra đời đúng mùa hè 1962.
Đây chỉ là một chuyện tình vụn mùa hè của thằng tôi.
Hè, tháng 7 - juillet năm 1962, được anh bạn rủ rê, chúng tôi một nhóm bốn sanh viên Việt Nam, đi giữ trẻ ở bờ biển Đại Tây Dương, tỉnh Sables d’Olonne. vùng Vendée. Miền Tây xứ Pháp. Nói là trẻ nhưng thật sự các em là thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi. Thuở ấy 21 tuổi mới được trưởng thành. Tuy chỉ 15 đến 17 tuổi, nhưng có em đã cao trên 1 thước 70 - cao hơn các bạn Việt Nam chúng tôi, riêng tôi, may quá, cao 1 thước 78, nên cũng ngang ngưỡng xêm xêm với các em, tuy lớn xác, nhưng nói chung, dễ thương và dễ bảo. Hè ấy có cả Michel Drucker và một anh bạn cùng gốc Normandie tên Trauveter làm chung với chúng tôi. Ngày nay, Michel Drucker là một nhà báo, nhà đạo diễn truyền hình lớn, là một tên tuổi lớn của Đài Truyền Hình Pháp. Trong đời Bohème của thằng tôi có hai lần may mắn làm việc chung với các tên tuổi tài tử lớn : Michel Drucker của Pháp, và Robert de Niro của Mỹ (với phim Once Upon a Time America) Drucker ở Pháp năm 62. De Niro ở Ý năm 82. C’était ma vie de Bohème !
Năm 1962, cũng ở Vendée, cũng một chuyện tình, cũng lở dại với em, nên bị nàng giận, vãnh mặt bỏ đi. Mình vì lần đầu tiên « được » dại với một em, nên tương tư thất tình, suốt tháng, và được ru với bản Trousse Chemise nầy ! Nhớ mãi ...
 
Anh xin thề - Sur ma vie
Sur ma vie je t'ai juré un jour 
De t'aimer jusqu'au dernier jour de mes jours 
Et le même mot 
Devait très bientôt 
Nous unir devant Dieu et les hommes ... 

Anh xin thề sẽ yêu em đến chết
Và lời thề ấy sẽ
Xum hợp chúng ta trước mặt Chúa và thế gian….
 
Bài hát của tuổi thiếu niên, của hời trung học, của thời yêu trôm, nhớ thầm. Mỗi lần yêu, là thèm cột chăt cuộc đời vào em ngay. Nhưng Yêu thi yêu vẫn yêu vơ, yêu thay đổi, hôm nay mới thoáng nhìn, đã mơ ngay, đã yêu ngay, nhưn yêu nhưng chả dám … và ngày mai, gặp ai khác, lại cũng yêu ngay, và cũng … cứ thế mà thay đổi, hôm nay tóc thề, mai tóc ngắn, hôm nay mắt nhung, mai môi cong… hôm nay cao gầy, mai tròn trỉnh... nhưng mỗi lần đều thoang thoảng những lời của  « Sur Ma Vie... » Thề … May quá chỉ thề …  riêng với lòng, âm thầm… mà nghe...
Thời ấy là những năm cuối trung học, ở Dalat. Với những ngày Chúa Nhựt thường ra nghe nhạc ở Café Tùng… Ngẫn ngơ một ly caphê đậm, một điếu thuốc Bastos xanh, và « sur ma Vie » cùng với các bài ca Pháp thịnh hành như Bambino do Dalida hát hay Me Qué của Gilbert Bécaud, …
 
Thay lời Kết : 100 % Français, 100 % Arménien
Charles Aznavour lúc sanh thời thường nói ông là 100 % người Pháp, 100 %  người Arménien.
Kết quả của một sự hội nhập kỳ diệu. Thuần chủng Arménien, cha arménien, mẹ arménien, nhưng ông được thế giới công nhập là một tài tử, một nhạc sĩ Pháp số một.
Ông đặt lời những bài ca với một giọng văn Pháp chãi chuốt tuyệt diệu, sắc bén. Với những câu ngắn gọn, ông tả tâm trạng tình yêu, từ say mê đến thất tình tuyệt diệu.
Ông từng nói, ngôn ngữ Pháp không có mélodie, không có nhạc điệu, nhưng có vần có nhịp – rythme et rime vì vậy phải xài rythme và xài rime – vần và nhịp để thay mélodie – nhạc điệu.
Do đó nhạc của ông bất hủ như tên của ông bất tử !
Charles Azenavour là một điển hình của một hội nhập thành công. 100 phần trăm người Pháp, 100 phần trăm người Arménien.
Mong sao cộng đồng Việt Nam chúng ta có những hậu duệ có những biệt tài như vậy. 100 phần trăm công dân xứ người nhưng vẫn giữ 100 phần trăm tinh túy và đạo đức Việt Nam.
Mong lắm !
Hồi Nhơn Sơn, những ngày chớm lạnh
Viết xong ngày tang lễ của Charles Aznavour
Phan Văn Song

1-10 of 148