Articles


Recent Articles

  • Sài Gòn đầu đường cuối ngõ Sài Gòn đầu đường cuối ngõNăm thì mười họa ghé cà phê Starbucks, bỗng dưng không đâu lũ bạn cũ ở quán cô Hồng, quán Thằng Bờm, quán chị ...
    Posted Nov 1, 2020, 12:24 AM by Andy Nguyen
  • VN- Gây quỹ cứu giúp lũ lụt và Nghị định 64] Nghị định, thông tư và danh dự nhà nước21:46 | Posted by BVN1Hoàng Hoành SơnCăn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01/7/2003 ...
    Posted Oct 30, 2020, 10:37 PM by Andy Nguyen
  • Photographie Environnementale 2018
    Posted Sep 30, 2019, 1:17 AM by Andy Nguyen
  • Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh Sáng 2019-08-16 : Nghề chơi cũng lắm công phu :Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh SángPhan Văn Song« …. Nghề chơi cũng lắm công phu,Làng chơi ta phải ...
    Posted Aug 16, 2019, 9:02 PM by Andy Nguyen
  • Chiếc Xế Một Thời Pour les yersiniens ... nostalgiques de SaïgonLes dernières années de SaïgonMarabout PVS LY612019-08-09 : Những Cuộc Tình với Xế  Hộp:  Chiếc Xế Một Thời FORD MUSTANGPhan ...
    Posted Aug 14, 2019, 11:09 PM by Andy Nguyen
  • Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê: 2019-08-02 : Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê:  Cà Phê Phan Văn Song Trời hồng hồng sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song. Cành mềm mềm ...
    Posted Aug 7, 2019, 10:56 PM by Andy Nguyen
  • Bạc Sỉu
    Posted Aug 2, 2019, 3:27 AM by Andy Nguyen
  • Chuyện tình của một cô Couventine
    Posted Jul 29, 2019, 11:03 PM by Andy Nguyen
  • Papillon 2019-07-26 : Ciné Phòng 5 C2 trại tù Cộng Sản Việt Nam T 20   Papillon Phan Văn Song Kính thưa quý thân hữu, Kính thưa quý bà con. Tại ...
    Posted Jul 27, 2019, 1:11 AM by Andy Nguyen
  • Activities for Father's Day
    Posted Jun 14, 2019, 2:49 AM by Andy Nguyen
  • Bạn bị đau xương khớp cổ vai gáy, đau lưng và đầu gối? Bạn đang tìm một bài tập thể dục giúp phòng và chữa bệnh này? Đây chính là gợi ý tuyệt vời nhất mà bạn nên thử tập ngay. Bệnh xương khớp được xem là một trong những căn bệnh phổ biến, càng ngày càng trẻ hóa với tỉ lệ người mắc bệnh tăng cao. Nhưng do các dấu ...
    Posted Nov 28, 2018, 7:57 PM by Andy Nguyen
  • Nhớ Ngày Nào - Hier Encore Aux yersiniennes , yersiniens et amies, amis,Qui a un jour aimé, chanté, ... un peu, beaucoup, passionnémentCharles Azenavour ....Regrets pour le grand Charlesou regrets pour tes vingt ans...Pleurer ...
    Posted Oct 12, 2018, 11:47 PM by Andy Nguyen
  • Cảm nhận từ đường phố Việt Nam  Nguyễn Văn Tuấn nguyên giảng sư Đại Học Y Khoa New South Wales & University of Technology, Sydney>Tôi vừa có một chuyến đi gần 1 tháng ở bên nhà. Đó ...
    Posted Sep 22, 2018, 11:20 PM by Andy Nguyen
  • The dangers of eating raw fish Raw fish, such as sushi, and other uncooked seafood may be delicious, but they also may be dangerous -- even life-threatening -- if prepared inexpertly.Case in point: A 71-year ...
    Posted Sep 5, 2018, 10:29 PM by Andy Nguyen
  • ĂN TỐI LÀ ĂN CHO KẺ THÙ Thật là đáng sợ, từ nay bữa tối không dám ham ăn  nữa! Nhất định phải chia sẻ cho những người bạn bên cạnh cùng biết. ĂN TỐI LÀ ĂN ...
    Posted Sep 5, 2018, 10:13 PM by Andy Nguyen
  • Bia Saigon ( Chuyện vui ) Bia Sài gòn  Có 1 anh chàng về VN, đi nhậu 1 mình.Vừa ngồi xuống bàn, chưa kịp kêu bia thì một cô tiếp thị bia Tiger xinh như ...
    Posted Sep 5, 2018, 10:02 PM by Andy Nguyen
  • UN NOUVEL AMOUR
    Posted Aug 28, 2018, 2:09 PM by Andy Nguyen
  • Một nhân tài Một nhân tàiNhiều khi mình phải suy nghĩ, dù chỉ là nơi thuộc địa, nhưng người Pháp đã xây dựng nên những công trình gía trị với thời gian ...
    Posted Aug 24, 2018, 7:08 PM by Andy Nguyen
  • Người Buôn Gió Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu)Đất nào sinh ra tôiMẹ hiền nào nuôi thân tôiMiền nào nuôi thân tôiMà giờ này tôi xa rồi.“Quê hương ...
    Posted Aug 21, 2018, 10:27 AM by Andy Nguyen
  • Le vélo à Dalat Dans la zone éloignée et peu fréquentée de la villa rose, les transports en commun étaient quasiment inexistants. Les rares et seules fois, où j'ai bénéficié d'un transport ...
    Posted Oct 3, 2020, 10:05 PM by Andy Nguyen
  • Mon arrivée à Dalat Elle a eu lieu le 03 août 1966 Coopérant militaire Je ne sais pas pourquoi certains étudiants universitairesont choisi la coopération étrangèreet quelles en furent leurs raisonsplutôt ...
    Posted Aug 20, 2018, 8:19 PM by Andy Nguyen
  • Làm sao tránh bệnh lẩn -Alzheimer Gần phân nửa số người Mỹ 85 tuổi mắc bệnh Alzheimer's, một chữ mà người Việt ở Mỹ đã quen thuộc và thường dịch là bệnh lẩn. Một số ...
    Posted Aug 17, 2018, 10:47 PM by Andy Nguyen
  • (Chuyện cảm động quá! Không biết trong tương lai mình có y bản sao như vậy hay không?) Nguyễn Thị Thêm  Cuối tháng này là sinh nhật cháu tôi. Đứa cháu trai duy nhất trong gia đình. Đứa cháu nội mà tôi thương nhất. Chẳng phải tôi thiên ...
    Posted Aug 17, 2018, 10:15 PM by Andy Nguyen
  • SÀI GÒN NGỌC NGÀ DĨ VÃNG Saigon oi, we love you forever!Sàigòn một thuở là Hòn Ngọc Viễn Ðông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á.Sau tháng tư năm 1975, lại mang một ...
    Posted Aug 16, 2018, 11:30 PM by Andy Nguyen
  • Sống Thọ ? Sống Thọ ?     Theo Giáo sư, bác sĩ Lý Thiếu Hồng, khoa Y liệu, Học viện Trung y Bắc Kinh (TQ), có một điều kỳ lạ có thể bạn chưa biết ...
    Posted Aug 16, 2018, 11:15 PM by Andy Nguyen
Showing posts 1 - 25 of 150. View more »

Sài Gòn đầu đường cuối ngõ

posted Nov 1, 2020, 12:20 AM by Andy Nguyen   [ updated Nov 1, 2020, 12:24 AM ]

Sài Gòn đầu đường cuối ngõ


Năm thì mười họa ghé cà phê Starbucks, bỗng dưng không đâu lũ bạn cũ ở quán cô Hồng, quán Thằng Bờm, quán chị Chi lại lũ lượt rủ nhau kéo về...ngồi đồng với tao. Những quán cà phê năm nào nằm ẩn khuất đâu đó đằng góc phố hay con ngõ nhỏ, thế là được thể tao để hồn vía lang thang bay bổng với mây trời. Rằng bằng vào cái tuổi lá xanh, lá vàng, cớ sự gì tao không thẩn thơ trở về ngày này tháng ấy qua những quán xá bên đường. Thơ thẩn cùng cái tuổi mới lớn lãng đãng của một thời xưa cũ qua những khúc hát ban đầu, những cái tên của từng bản nhạc hay tên của những nhân vật thời thượng mang mang một thời hoang vắng. Những quán không số, ngõ không tên, ấy là những mảng dĩ vãng đầy ắp trong tâm khảm cả đấy, thưa mày.

Rồi, một ngày nào đó...

Tao sẽ trở về tìm lại con phố cũ có quán cà phê ở một ngã ba, ngã tư mà những cái cột đèn chẳng thể thiếu vắng của bất cứ ai trong mảnh đời luân lạc, với Sài Gòn hoài niệm, Sài Gòn dĩ vãng, Sài Gòn ký ức đâu đây.

Rồi, sẽ có một ngày...

***
Ngày trời tháng Bụt, ngay lúc này đây tao đang có mặt gần phố Cầu Gỗ, tự nhủ thầm mắc mớ gì lần mò đến những quán cà phê của Hà Nội trước 54 như quán ông Nhân, ông Giảng, dường như nay cả hai đã có mặt trên chuyến tầu miên viễn. Bỗng thèm một ly cà phê đá đậm đặc, thêm một ngày mưa bụi bay bay đan vào nhau như màng nhện, mặt đường ướt và trơn, để đẩy đưa tao có ý đồ đi lùng cà phê...xe, cà phê ...gánh. Và đây mới là chuyện tao muốn kể lể: Nghe hơi nồi chõ tại một con ngõ nhỏ có tới cả chục quán cà phê vỉa hè, vậy là tao vác xác tới và ớ ra vì ấy là ngõ...Hàng Hành. Quái quỷ gì đâu chẳng biết nữa, hết cầu gỗ đến hành tỏi. Thế nhưng Hà Nội phố, ngựa xe tấp nập buổi tan tầm và một buổi sáng ướt lướt thướt trong mưa lâm râm lạnh và tao đã lừng lững có mặt như Từ Thức về trần. Nghe hãi không mày.

Sáng tinh mơ ngày thứ ba có mặt ở Hà Nội, dậy thật sớm, tao lò dò mò đi thăm phố phường, tao không bắt gặp cà phê xe mà...mà đập vào mắt tao là dẫy tường dài, người ta chăng tấm vải bạt, bầy ba cái bàn dăm cái ghế thấp, mà bàn đây là mấy cái thùng gỗ và gọi ấy là quán cà phê. Tao phởn phơ bước qua, bụng bảo dạ sẽ kêu một cái nồi ngồi trên cái cốc cho nó oách. Tao chắc mẩm sẽ bắt được một tách cà phê qua điệu nhạc tao đã từng nghe rách tai: Bóng tối đen như cà phê...Bóng tối đắng như cà phê thì được gã chủ quán lò dò đến hỏi cộc lốc: "Uống gì".

Chưa kịp há mồm thưa gửi cho ra dáng người Hà Nội thanh lịch. Gã nhấm nhẳng: "Ở đây chỉ có cà phê" rồi quay đi, lững thững mở cái...fri-di-đe chạy đầy đường. Lấy ra một cái chai đen xì như thuốc bắc. Rót tồ tồ vào cái cốc vàng khè. Bỏ vào cái "máy hấp", máy chạy nghe kêu...u u như ve sầu mùa hạ. Và đúng ba mươi giây sau, tao có một cốc...cà phê truyền thống. Sau khi bị bắt cóc bỏ đĩa...ly cà phê đen...đen như bóng tối xong. Nhâm nhi cốc cà phê...mầu nâu đất, nhạt như nước ốc ao bèo, lúc ấy tao mới ngộ ra một điều: Năm 54, các ông bác, ông chú mình gồng gánh cà phê phin theo tầu há mồm vào Nam. Bây giờ mấy ông dép râu nón tai bèo với xe đạp đèo cà phê "bí tất" ra Thăng Long nghìn năm văn vật cho nhân sĩ Bắc Hà. Thêm một nghịch lý nữa là dân Sài Gòn lơ đãng nhìn ra đường...nhìn đời bằng nửa con mắt thì người Hà Nội...trăn trở quay mặt vào tường loang lổ để đăm đăm nhòm cái dòng sinh mệnh nổi trôi.

Cùng Thăng Long hoài cổ, thêm một tảng văn chương chữ nghĩa với "một không gian văn hóa dân dã vô cùng thú vị " của "văn hóa quán cóc"...Và sĩ phu Bắc Hà gọi là quán..."liêu xiêu". Hai chữ này "đắt" không mày. Trở lại với cái quán không nhà bên đường, rằng cứ ngồi chồm hổm như cậu ông trời nên được gọi là quán cóc chăng?

Nhưng ấy là chuyện sau với cà phê Năm Dưỡng, thưa mày!

***

Bỏ cà phê...đen như mõm chó ở cái quán liêu xiêu ấy, vào Sài Gòn và lúc này tao đang ngồi đây. Tại đây một thời mang cái tên là hồ Con Rùa, nằm chình ình trên con đường Duy Tân cây dài bóng mát và ở đấy nay có quán cà phê 47. Quán nằm trong con hẻm rộng có căn nhà của người Trịnh Công Sơn, thế nên người Hà Nội thấy sang bắt quàng làm họ và gọi là: hẻm Trịnh. Chưa hết, sau cái ngày một vũng tang thương nước lộn trời với một cái chấm hết, gần Bến Tắm Ngựa, Tân Định có quán Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư. Ông vứt bỏ áo nâu sòng, với điếu thuốc dang dở cháy đỏ giữa hai ngón tay, như chưa tàn cuộc phù vân, ông ngồi lặng lẽ ngắm những viên đá đang tan chẩy trong ly cà phê. Mỗi giọt nước đọng vẽ vời những ẩn mật vô ngôn, đá trầm mặc từ từ tan loãng để tìm về bản thể long lanh của minh, chẳng biết đá tồn tại không tồn tại. Chỉ còn lại một làn hơi bảng lảng giữa quá khứ và hiện tại. Nhưng nói thẳng mực tầu đau lòng gỗ thì chạy trời không khỏi nắng: Ấy lại là quán cà phê...bí tất, thưa mày.

Như bị bóng đè, tao thả hồn về Sài Gòn 54 ri cư và lớn lên với những con ngõ xôn xao, nằm trong thành phố lớn cùng vài quán cà phê đầu đời...Nhà tao ở ngay đường Nguyễn Tri Phương, để chẳng bao giờ quên thằng Bắc kỳ ăn cá rô cây... có tâm hồn ăn uống: Aên thì tao xớ rớ ba thứ tầm ruột, xoài tượng. Uống thì chộn rộn mút cục đá nhận bạc hà, đến trơ cái lạnh, nhạt trên đầu lưỡi. Vậy mà lớ ngớ đi vớt nòng nọc ở cái rãnh thoát nước trước cư xá Minh Mạng. Tao thấy tại cái quán chệt xập xệ của một lão Tầu già, lão cầm cái vợt, giống như miếng vải buộc vào đầu đũa để bắt lăng quăng của tụi tao, giống "cái vó" đánh dậm, vớt tôm bắt ốc của người Bắc mình. Thế rồi lão đổ nước sôi vào, nước chẩy tong tong thấy sướng con mắt, những giọt nước mầu đen bốc khói thơm lừng. Và tao ngớ ra chẳng hiểu là cái chết tiệt gì. Khỉ thế đấy.

Mãi cho đến năm trung học, mầy mò ra cái quán Năm Dưỡng khu Bàn Cờ, lúc ấy tao mới chứng ngộ ra "cái vó" được gọi với cái tên rất Tây là "cà phê bí tất", điã cà phê đen nông tè gọi là "xây chừng", thêm tí sữa kêu là "pạc xẩy". Thế đó. Thế nhưng chẳng có hơi hướng cà phê quái gì. Đúng ra lão bỏ trái điệp rang hay gạo bắp vào cái túi vải dài giống như chiếc vớ, chế nước sôi vào cho ngấm, gạn lọc đổ vào chai la-de Con Cọp vàng khè. Nốc vào tao còn nhớ mãi cái mùi ngai ngái như mùi bọ xít, hăng hăng khét đằng. Vừa uống vừa lấy cái của nợ...mà Nam kêu là muỗng, Bắc gọi là cái cù dìa, để vớt những cặn bã đen như vỏ cây bị đốt, nên chả thống khoái gì sất cả.

Nhân chuyện thổ âm với thổ ngơi, người Bắc với người Nam, hoài cố nhân qua cà phê, tao trộm nghĩ rằng chẳng thể vắng bóng người Bình Nguyên Lộc. Trong "Hồn Ma Cũ", chẳng mầu mè ba lá hẹ gì sất cả, ông kêu đại cái giống này là cà phê..."cắc chú" thế mới cha đời, chữ nghĩa miệt vườn như vậy là...nhứt.

Và mày hãy ráng nghe ông kể chuyện uống "cà phê đĩa" bên lề đường cho mà nghe, cho đã:"Hai chân len lén rút ra khỏi đôi dép da, đạp lên cái ghế con bỏ trống bên cạnh, hay gác lên bờ tường thấp. Ngả người trên lưng ghế, ngước nhìn lên trời. Bầu trời vắng vẻ cao vời vợi, chuyện cũ dâng lên trong ký ức, lan man...Cà phê tất nhiên chỉ là cái cớ. Không có cà phê ta vẫn có thể...len lén tự rút mình ra khỏi cuộc sống, ra khỏi đôi dép...Ngày nào cũng thế, khách ngồi đó như...vị tiên bất tử. Khách hết lớp này lớp kia ra vào, y như các thế hệ nối tiếp nhau mọc trên dương thế, ngồi ngoài càn khôn mà nhìn vào kiếp sống phù du này."

Nghe "phê" không mày. Chả là dạo đó tao như Bình Nguyên Lộc, ngồi chơ vơ giữa phố thị, giữa trời đất mang mang ai người tri kỷ. Và chỉ khác một điều là, còn bé tí, vậy mà những điếu thuốc đầu đời được đốt lên, thông cảm đi, tập làm người lớn mà mày...
***
Ít lâu sau như dế mèn phiêu lưu ký, với cái xe đạp Sterling khuân từ Hà Nội nghìn năm mây bay vào. Tao thả rong theo đường Nguyễn Thiện Thuật và táp vào một con ngõ nhỏ với quán cà phê Phong của một cụ phán Bắc kỳ ri cư về hưu. Đúng ra là tên Foóng, là kỳ nhân dị tướng, thế nên cụ cũng khác người. Khách tới nhằm lúc cụ đang bình cờ, gài thế thì khách mặc khách. Cụ cứ nhàn nhã tiến quân xe, lùi quân pháo cho đến lúc tàn cuộc binh đao, cụ mới thủng thẳng làm cho một tách. Gặp lúc cờ đang dở cuộc không còn nước, cứ ngồi đó mà nhỏng tai nghe cái máy phát thanh gỗ hiệu Phillips qua giọng hát của Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết lê thê...với Đêm Tàn Bến Ngự. Như trên tao đã vung vãi, âm thanh là một phần của một quãng đời, bám cứng không rời, để thành hòai niệm, từ cái quán trong ngõ hẹp này về sau. Những tên bản nhạc đánh dấu cái mốc của thời gian với Chuyến Đò Vĩ Tuyến của Lam Phương. Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương. Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, thơ Hoàng Anh Tuấn, Phạm Đình Chương phổ nhạc. Nhạc vàng, nhạc xanh như lá đổ muôn chiều, cứ ối ra cả đấy trong quán cà phê của Sài Gòn đầu đường cuối ngõ. Tao sẽ hầu chuyện mày ở khúc sau.

Vì vậy có thể nói quán đầu tiên trong ngõ của Sài Gòn là quán Phong. Để rồi Sài Gòn ngày ấy là vùng đất mới đang cần khai phá, vẫn với con ngựa sắt tao buồn tình ghé Phan Đình Phùng, tao...tìm ra quán Gíó Bắc. Mãi gần đây, ghe ông cậu vợ kể chuyện một thuở hoàng kim Sài Gòn 54 với quán này có cái máy đĩa lên dây thiều quay tay hiệu Béka từ năm 1938 với cái kim nhọn hoắt, biểu tượng là con chó Fox ngồi bên cái loa, cái đĩa 45 tua với bản J'ai deux la mours. Ông chủ ngoài bộ râu con kiến Clark Gable, ông còn có cô con gái rượu và...hai cây si trồng trong chậu ngay trước quán. Và cái hình tượng nhẩy nhót trong đầu tao chẳng phải là quán Gió Bắc, Gió Nam mà là chiếc xe Renault con cóc hai mầu xanh vàng của miền Nam mưa nắng hai mùa.

***


Ông cậu vợ "nhắc nhớ" đến phở Tầu Bay, rằng sáng sáng ông tạt vào làm một bát tái trần nước béo và ngó qua cũng một con ngõ nhỏ sâu thẳm, bên cạnh có một hàng bánh cuốn, trên bàn bầy mấy đĩa bánh rán như...đợi ruồi. Và có một hàng cà phê. Sau này qua điển tích, điển cố, anh mới hay là quán cà phê Lão Tử. Quán có cái tên này vì người chủ quán nhân hậu, chẳng bao giờ nhắc khách những nợ nần tơ vương. Khách bẽn lẽn đến, ông không nói một tiếng, bình thản mang cái phin ra đặt trước mặt. Và khách đứng lên, có thiếu một phùa chăng nữa, ông cũng lặng lờ như gió thổi mây bay. Người chủ quán như thế, chẳng là Lão Tử thì còn là ai và khách đây cũng không ngoài Thế Uyên, Lê Quỳnh...Từ quán ngó qua bên kia đường Lý Thái Tổ là một cái nhà hòm với những chiếc quan tài bé con con trước cửa bệnh viện Nhi Đồng. Lại không thể không nhắc đến nhà hòm Tobia với quán cà phê Thu Hương sau này, thưa mày.

***

Từ phở Tầu Bay hướng về khu trường đua Phú Thọ trước kia với 10 ngàn cái lều ri cư. Bắt gặp con lộ nhỏ Đào Duy Từ ở sân vận động Cộng Hoà có quán Đa La. Quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh mang cái hơi hướng núi rừng Đà Lạt với giò lan, giỏ gùi sơn nữ. Tạo cho quán một dáng hoang dã với mây ngàn, cùng những thớt bàn được cưa từ những cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi cổ sơ lạnh lẽo. Được mấy mùa trăng lá rừng cũng rơi rụng là có quán khác. Quán này căng cái bạt nhà binh màu cứt ngựa, mặt vải vẽ sơn trăng tên Lam rất ư thư pháp của anh chị em Quốc Gia Hành Chánh. Rầm rộ khai trương âm thầm đóng cửa. Của người phúc ta, một nhóm Luật, Vạn Hạnh, Kiến Trúc chở củi về rừng dàn máy Akai của quán Lam. Cũng cưa sẻ mấy thân cây làm bàn ghế dựng nên quán Thằng Bờm ở ngã ba Đề Thám, Phạm Ngũ Lão. Bên kia khung trời với dăm cây số đường chim bay là quán Văn, nơi Khánh Ly đi chân đất hát nhạc họ Trịnh trên nền Khám Lớn cũ, bên này quán Thằng Bờm sập sình với ngâm sĩ Thanh Hùng của ban Anh Đàn và cặp Lê Uyên Phương từ Đà Lạt về.

Qua bài viết có cái tựa đề: "Quán Lão Tử: Một Thời", người viết Nguyễn Đạt muốn nhắc lại một quãng thời gian của khu lều học sinh ri cư Phú Thọ. Tiếp nối cùng Nguyễn Tiến Lập, Lưu Trọng Đạt, Nguyễn Nam Lộc, Hà Thời Triển...và ai nữa đã săn tay dựng lên quán như quán Lam, Thằng Bờm, Hầm Gió, Thượng Uyển...một thời của đám học trò di cư vào Nam nằm vào cái tuổi 11, 12. Ấy là chưa tính sổ giữa hai thập niên 60 và 70, Sài Gòn có nhiều quán cà phê mới, quán nào cũng chọn một cái tên qua những bản nhạc thời thượng như Hạ Trắng, Hương Xưa, Hoài Cảm...

Ấy đấy, Sài Gòn nhiễu sự nếu như có mấy tiệm thịt chó trấn ngay cửa chùa, nhà thờ...Mấy quán cà phê cũng bươn trải là không gần tiệm phở thì cũng ngang ngang nhà hòm. Giống như ở phố Lò Sũ có quán cà phê...Âm Phủ. Bởi nỗi buồn chạm mặt với phố Lò Sũ là tên mới của phố...Hàng Hòm cũ thập niên 20. Mà sũ tiếng Nôm là quan tài, là áo quan, nghe mất vui, mất sướng. Nếu Hà Nội hôm nay có những quán cà phê vườn cho những người yêu nhau trời hôm tối rồi. Thì Sài Gòn thuở ấy, nếu lấy con đường Lê Văn Duyệt làm làn ranh, bên này là những quán cà phê cho những cụ Bắc kỳ ri cư "Ai ra bến nước trông về Bắc - Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng". Và bên kia là những quán cho những người trẻ tuổi đang vật vã với "Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ - Chí lớn chưa về bàn tay không". Nhưng ấy là chuyện hậu sự, thưa mày.

***

Vì rằng mày cũng đã ứ hơi với cà phê "hàm thụ" Sài Gòn. Mà nói dại chứ, nếu mày có rối rắm với cố hương nan khứ hậu nan quy. Mày hãy leo lên cái xe Goebel máy đuôi cá nổ bành bạch như xích lô máy của tao để tìm về một góc Sài Gòn của những ngày tháng cũ. ƯØ thì hãy bắt đầu cuộc hành hương từ trường Chu Văn An mới, dọc theo đường Minh Mạng là gặp Ngã Sáu Chợ Lớn với bến xe đò lục tỉnh, gần khu này còn có hãng Mic, Basto, hãng La-de BGI. Dọc Phan Thanh Giản qua bệnh viện Bình Dân, chợ Vườn Chuối, mày sẽ chẳng tìm lại được mấy cái Vespas phình bụng. Cái Mobylette vàng ì ạch như ông công chức già. Cái Velo Solex với cái bầu to đùng ở phía trước. Ngay cả những chiếc Honda Dame, Lambretta, Suzuki M15 này kia. Hết rồi. Tất cả đã chìm trong quá vãng cùng một thời đã qua. Tất cả chỉ còn là những cái tên, như những vang vọng như tiếng rao hàng rong của một Hà Nội 36 phố phường. Thế nhưng ai chả có quá khứ còm cõi, dù rằng chỉ có một lần lất phất trong đời. Tao triết lý củ khoai như vậy đấy, nghe được không mày.

Tới chợ Chí Hòa, cùng những hình tượng trên, con đường nhân gian với nước chẩy qua cầu này cũng chẳng còn những chuyến xe thổ mộ cùng con ngựa già lóc cóc về ngã tư Bẩy Hiền. Tất cả đã thuộc về năm tháng cùng một thời vắng bóng. Mày hỏi đường gì ấy hả...Ấy là khúc Trương Minh Giảng qua nhà thờ Ba Chuông, bên phải là mấy hàng chả thịt nướng khói bay nghi ngút thơm lừng. Bên kia đường là hai, ba cái xe thịt chó treo lơ lửng mấy cái đùi trắng hếu như ếch lột. Rõ ra một ngày, lạc lối chân ai, tao lạc vào quán cà phê Thăng Long lúc nào cũng chẳng biết nữa. Và chỉ nhớ mài mại là quán thấp hơn mặt đường, phải bước xuống mấy bực thềm, trước có một giàn hoa giấy. Quán có "dàn" phin cà phê bằng đồng chứ không phải bằng nhôm như mấy quán khác vậy thôi. Sau quơ cào trong báo bổ tao mới hay quán có từ ngoài Bắc, theo chân vợ chồng của một ông bà di cư tên Cẩn dọn vào. Vì vậy nhạc trong quán thường là nhạc tiền chiến như Dư Âm, Nỗi Niềm Người Đi, Buồn Tàn Thu và khách quen của quán là nhà văn Nguyễn Đình Toàn, Mai Thảo, Duyên Anh.

Lại bát phố thêm một phùa nữa, từ Phan Thanh Giản rẽ phải, rải rác đâu đây một sạp báo, quầy bán thuốc lá lẻ, quầy bán vé xổ số. Dường như đều rời rạc nhưng gắn bó trong tâm tư của những người đi xa. Nếu có dịp hồi tưởng lại trong một thành phố lạ và những đường Sài Gòn xô bồ, xẻ ngang chém dọc và quan hòai là vậy đấy mày. Rồi mày sẽ xuôi theo dòng đời ngược xuôi với phố Lê Lợi rộng thênh thang. Thoáng qua Thanh Bạch ngập ngùi với mùi bò kho, rau húng chấm muối tiêu chanh. Rồi thương hoài nghìn năm xe mía Viễn Đông. Thôi thì của khôn người khó, mày và tao hãy ngụp lặn với khô bò gan vàng cháy, nằm gọn lỏn trong cái xe thùng mặt kính, đầy ắp những đu đủ xanh bào mỏng, chai dấm trắng, nước tương đỏ. Nếu mày sầu qua ngọn cỏ cùng cái chậu lõng bõng nước, cái khăn vàng ố thì bắt cái bò bía hay chuỗi phá lấu thơm phức và gan ruột phổi phèo xiên qua cây tăm tre quẹt tương đen cùng một chút hương xưa.

Mày như Từ Thức về trần, thôi thì mày và tao hãy lách vào hẻm Casino Sài Gòn, ngõ ngách Passage Eden, quán Bà Ba Bủng vớt một bát bún ốc. Cố nhân hoài cố quận, cố tìm lại hình bóng con ốc nhồi xa xưa, ở một vùng quê đất Bắc xa lắc xa lơ. Vẫn chỉ là con ốc nhồi ẩn náu dưới mớ ao bèo trên mặt ao đầy váng vậy mà ngon đáo để. Hay một mâm bún chả thơm nồng, vẫn còn một chút dư vị chợ Đồng Xuân. Hoặc giả như bát miến gà, bát bún thang. Khi đã no nê, vẫn còn hơi hướng đôi ba giọt cà cuống nồng cay dắt đầu lưỡi. Hay hoài cố hương với quán cơm Bà Cả Đọi, mà Nguyễn Thụy Long thấy mặt đặt tên đó mày. Quán trong một cái hẻm sâu hun hút, mâm cơm dọn trên "đi-văng" gỗ bóng mầu thời gian cũng chiếu hoa một cõi. Cùng những món rất Bắc Kỳ rau muống như thịt đông dưa chua, canh cua rau đay mồng tơi, cà pháo chấm với mắm tôm.

Chẳng giấu gì mày, tao đang mặn mà với những cái tên của quá khứ cùng lá vàng rơi trên giấy, ngoài trời mưa bụi bay...Với chỉ một con đường Catina không thôi cùng những cái tên như Continental, Caravelle, Majestic, Broda, La Pagode, Givral, dẫu rằng chỉ là những cái tên. Để rồi một ngày nào đó, theo tuổi tác của những người viễn xứ, giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu và tàn lụi vào dĩ vãng. Nếu có thể được, cùng bên bờ đôi ngả, mày cho tao một chút vấn vương không tưởng, như lối xưa xe ngựa hồn thu thảo cùng những...hòai đồng vọng. Mày vén môi: "Vậy ư ". Vậy thì mày cứ tà tà húyt gió như người Sài Gòn năm xưa qua tiếng hát Sylvie Vartan với: "J'attendais que ma vie recommence.."là sắp tới đường Tư Do với mini jupe, montagut để tìm kiếm cô Bắc kỳ nho nhỏ...em có nhìn anh giữa đám đông, trong đám đông.

Nếu mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, đều thấp thoáng bóng hình của bạn xưa trường cũ...Hãy khoan đã, mày là thổ công Sài Gòn hay lõi đời với ba chữ dấm dớ ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, ăn cơm Tầu. Mày muốn chấm bánh croissant vào cái tách cà phê sữa to bằng cái bát ăn cơm. Hoặc giả mày muốn gặp Sartre, Camus da vàng mũi tẹt đeo kính cận vuông đồi mồi to tổ bố, ngậm ống vố dài ngoằng và luận về thuyết hiện sinh hay dấn thân cùng thân phận bèo bọt thì cứ táp vào quán Chùa. Mày sẽ được ngồi trong cái ghế da to đùng, ôm cái bàn nặng chình chịch. Và được nghe kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình hay châu đầu vào nhau tính chuyện lấp bể dời sông, hay sì sầm bàn tính đường trốn lính. Và mày sẽ được hút thuốc lá có "mùi nhang" thả dàn, cuối chầu là quên bẵng chuyện ai là đầu tầu...trả tiền cà phê! Nên được gọi là quán..."chùa" chăng? Thôi thì mày cứ hoài cố nhân về những thằng áo liền quần với cái kính ray-ban, thằng thì mầu áo hoa rừng đeo khăn quàng cổ, dẫu gì tao cũng muốn thả rong về một thời chinh chiến cùng cái poncho mầu cứt ngựa mà mày. Thôi..."zu-lu".

Mày ớ ra với "zu lu"...thì cũng "dzọt" cho phải phép đấy thôi. À mày hỏi tao đi đâu hả, thì quay về vùng đất địa linh nhân kiệt của Sài Gòn đấy mà, nhân tài và quán "cà phê" thời nào cũng có, đông như tổ đỉa. Vậy thì hãy ghé quán cà phê Thu Hương, thảnh thơi bước vào một sân gạch rộng, từ trong có thể nhìn ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh, cũng với một giàn hoa giấy phủ rợp. Mày hãy mộng dưới hoa về một ông chủ quán khó chịu một cách...dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê như một nghệ thuật kỳ thú với nghệ thuật vị nhân sinh. Mày muốn làm một cái phin chăng? Xin cứ ngồi yên đó, việc của mày là đợi, đừng táy máy đụng vào làm hư "tác phẩm" của ông ấy. Cà phê bưng tới, ông ngồi đâu đó như rình thời gian và...rình mày. Ông rình mày như mèo rình chuột. Trong lúc ông nhìn trời, cà phê trong "nồi" lặng lẽ, từng giọt, từng giọt âm thầm theo nhau rụng xuống đáy...trầm luân. Như tao đã giải lý, cà phê rụng xuống không hấp tấp. Một giọt cà phê tự hư vô không bao giờ vội vã. Giữa khung cảnh của cái thời yêu cuồng sống vội ấy. Giọt cà phê chân chính không bao giờ biết nói dối. Vẫn bình tĩnh, thong thả, đủng đỉnh lắc lư, chán chê rồi bấy giờ mới buông mình xuống đáy tách.

Đừng nôn nóng gì cả, mày sẽ có tách cà phê để đời. Ông sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường và khuấy đều cho mày. Khi mọi việc đã mồ yên mả đẹp, ông sẽ lịch sự: "Xin mời". Mày táy máy mở cái nắp phin ư, nước chảy ào ào để lỏng le còn gì là Thu Hương nữa! Mày bỏ đường ngọt như ăn chè Hiển Khánh và còn khuấy thìa cốp cốp kiểu đó cà phê sẽ chua lét là mày giết ông ấy rồi! Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc tới. Họ có điểm giống nhau là tha tập cours quằn tay. Hoặc kinh thư "Nói Với Tuổi 20" của Nhất Hạnh hay "Hố Thẳm Tư Tưởng" của Phạm Công Thiện với mặt trăng hiếp dâm mặt trời. Hoặc giả một thời buồn nôn phi lý hay buồn ơi chào mi qua Jean Paul Sartre, Abert Camus, Francoise Sagan. Ấy là Sài Gòn một thời bút nghiên đèn sách đấy mày. Họ kéo nhau ngồi đấy, bập môi kéo thuốc nhả khói như điếu cầy, không phải Mélia vàng hay Basto đỏ. Mà phải Basto xanh giống thuốc lá Gaulois cho ra dáng Tây, cho có vẻ phong trần cát bụi. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự và...thiêu đốt cuộc đời, đốt cháy thời gian. Nể không mày.

***

Vừa ra khỏi quán Thu Hương, miệng mày mấp máy ra cái điều làm một quả...quẹo trái đi? Ấy không được đâu! Lạng quạng mày dám ngược dòng lịch sử để trở về thời hồng hoang. Như ngày nào mày lại viễn mơ về những cuộc hành hương theo con đường hai Bà, Cầu Kiệu, Võ Di Nguy, Chi Lăng. Là gặp lại một thoáng hương xưa với "một tiếng kêu cha" ở bệnh viện Cộng Hòa và xa hơn một chút nữa với "hai tiếng kêu chú" ở Ngã Ba Chú Ía. Đừng dại mày, đừng bao giờ trở về tắm lại hai lần cùng một dòng sông để thăm.... chốn cũ người xưa. Người kỳ nữ đâu không thấy, ngoảnh lại chỉ thấy đất xưa rày đã lên đồng, chỗ dựng nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Chuyện vật đổi sao rời là vậy đấy, thưa mày.

Với Sài Gòn không nắng thì mưa, hay tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt. Hoặc giả như gọi nắng cho cơn mê chiều nhiều hoa trắng bay...Với đình thụ bất tri nhân tận khứ, xuân lai hoàn phát cựu thời hoa, để nay tao thấy khúc phố nào cũng có dăm nhà ẩn mình sau giàn bông giấy hồng tươi mầu xác pháo hay dây thủy tiên chói đỏ. Có một điều lạ, đất khách quê người, loáng một cái như một giấc mơ hoang, tao quên bẵng đi những bụi hoa lạc loài ấy, mà chỉ miên man đến hoa phượng, hoa điệp như con cuốc gọi hồn. Những con đường Sài Gòn qua ký ức của tao là vậy. Từ đầu thập niên 60 cùng cái "xây chừng" với 1 đồng 3 điếu Ruby, để bắt đầu lớn lên cùng tách cà phê đắng chát...sau đó phun khói mịt mù. À mày hỏi tao lầu bầu gì ấy hả...Ừ thì tạo hóa gây chi cuộc hí trường, đến nay thấm thoắt mấy tinh sương, rằng đường mưa ướt đất để đi xuống một chút nữa, gặp một khúc phố...

***

Ấy là tao muốn mày ghé quán Văn Hoa.

Quán có món...cà phê đá, chẳng phải là đá bào, đá cục. Mỗi viên đá bằng đầu đũa đè lên nhau đầy ứ như bị ẩn ức, dẫy dụa như muốn buông thả. Cầm cái ly lắc lắc kêu lanh canh, nhấp một ngụm, lạnh cả người, lạnh cả đầu lưỡi. Nó cứ chui tuốt xuống cổ họng, lại thấy cái lạnh lan man khắp lục phủ ngũ tạng, len lỏi thăm thú từng phân vuông da thịt. Ngoài một chỗ ngồi, tao muốn trở về hai bên vỉa hè đầy cây cao thẳng tắp, để trăm nhớ nghìn thương với quán Văn Hoa cùng gió nồm rồi lại gió hanh, bể dâu thì đành bể dâu. Chẳng là ở đấy tao có nụ hôn đầu đời thắm mùi ngô non với người tình nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông. Rồi tao đưa em vào hạ, vào rạp Văn Hoa với bóng tối đèn mờ. Lần đầu tiên trong đời tao mới biết thế nào là ngứa ngáy, là bàn tay năm ngón kiêu sa tháo mở với...xào khô, xào ướt đến...khó chịu. Tao đang khơi đống tro tàn, nói dại chứ, ai chẳng muốn làm người lớn thì cũng phải bước qua giữa lối đi hẹp trong bóng tối âm u. Chữ nghĩa buông xả và niệm rằng: Tao chỉ vọng cố hương qua đường xưa lối cũ cùng một vạt áo dài ngang ngang đầu gối. Trái nắng trở trời với mưa không ướt đất nắng không ấm đầu, tao thương hoài nghìn năm về một tà áo tiểu thư qua tách cà phê đá và...không hơn đấy thôi.

***

Thêm một cái quán nho nhỏ để gợi nhớ đằng cuối đường Pasteur. Đầu ngã ba này là nhà may Thiết Lập phía đường Nguyễn Đình Chiểu, cuối ngã tư kia là phở Hòa: Ấy là quán cà phê Pasteur. Quán nhỏ bé với một cái tên, gọi riết thành quen vì rằng quán có ba chị em, cô Hồng, cô Hà và cô út tên Khuê. Quán không có bảng hiệu, mặt tiền trông ủ ê cũ kỹ với cửa nẻo mầu xanh lá cây. Ngày ấy tao ngất ngư với dòng nhạc mệt mỏi cỡ...đại bác đêm đêm vọng về của Trịnh Công Sơn như...cánh vạc bay, để rồi bay lên vút tận trời, từ nay xa cách mãi. Nói rõ ra là với những âm hưởng này, khách đến quán với một chút "cát bụi" như...đàn bò vào thành phố.

Quán hồi đó có những ai nhỉ? Vẫn hồn ma bóng quế của những dị tướng, dị nhân. Những hiện tượng cổ quái của một thưở với tóc tai như tổ quạ, mặt mày nhăn nhó khó coi, quái nữa là những khứa này lại sính nói chuyện...vô vi. Lại có khứa mang vóc dáng khinh đời khinh bạc, đi guốc, mặc áo nâu sòng, ngồi vắt mật vào tường và lầu bầu một mình như...Bùi Giáng. Ấy đấy, khách ngồi quán đếm không xuể kể không xong. Nay lâu lâu lại có dăm thằng bạn cà phê một thuở thì thào qua điện thoại, chuyện cũng chỉ nhắc lại quán cũ cùng thằng này thằng kia cùng một thời thế sự du du hề một thoáng bạch câu. Quán đã đi vào quá vãng, dãy phố buồn hiu trống vắng, ảm đạm của thành phố một thời người xe tấp nập như nêm cối. Một chiều, tao đã đứng ở đấy rất lâu, trước mặt quán bây giờ cái đống rác to bự sự và u hòai về cô hàng cà phê tên Hồng giờ chẳng biết luân lạc ở nơi nao. Thì đùng một cái, qua một bài viết của Phan Nghị, ông tự sự cô là người tình liễu trai của ông trong cái tuổi thất thập cổ lai hy. Đêm đêm hồn ma của bác phu quét đường, đàn bò, cánh vạc, đại bác, cứ nhè tai ông kêu réo, sau đó ông đành giã từ cõi nhân gian. Chuyện tình cô hàng cà phê là như thế đó. Cà phê nào mà chả đắng, cuộc tình nào mà chả...đen đủi. Thì cũng là chuyện vậy, thưa mày.

***
Cùng Sài Gòn lang thang trên đường Hồng Thập Tự chạy dài là gặp Đinh Tiên Hoàng. Mày vỗ vai tao...ƯØ thì sắp về đến một vùng thổ ngơi mà âm hưởng là bánh cuốn Thanh Trì nằm trong con hẻm Trần Khắc Chân. Thứ bánh cuốn mỏng tang, không nhân, chấm nước mắm nhĩ mầu cua đồng, cay xè vị ớt bột, kèm miếng đậu rán nóng hổi, giòn tan, thêm miếng chả quế, giò lụa trắng phau, ăn quên chết. Cũng nơi chốn này, còn có quán chả cá Thăng Long, với soong mỡ sôi đổ lên đĩa chả cá hòa nhập trong lá sung, lá ổi, lá mơ xanh um. Nghe tiếng mỡ xèo xèo đầy "ấn tượng", vậy mà tao vắt óc nghĩ mãi không quán nó nằm ở cái xó xỉnh nào, thoáng như hiện ra ở Xóm Chùa đường Lý Trần Quán thì phải. Ngựa xe rong ruổi, thôi thi hãy đảo qua đường xưa lối cũ với những Đinh Tiên Hoàng, Hiền Vương, để còn gì nữa ở vùng đất im ắng này.

Ấy là tao muốn ngược về một buổi hoang sơ trở lại với một góc phố Đa Kao bây giờ, mày ngó vào một căn nhà cửa đóng then gài mà trước kia là cà phê Hân. Không nói mày cũng biết tỏng là quán loại...cao cấp vì bàn ghế ở đây đều...cao, tạo cho khách một tư thế ngồi nghiêng ngả và bàn nào cũng thủ sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất cho nó Tây. Thì như tao đã luận ngữ ở trên, người Sài Gòn thuở đó rất Tây. Ấy là chưa kể cái nghĩa địa cũng Tây nốt gần đấy. Ở quán Hân này, như mày thấy đấy, bàn này người rì rầm nói chuyện, bàn kia người trầm tư lơ đãng, tạm lắng xuống những lo toan vất vả của đời thường, chẳng ai để ý đến ai.


Rạp Đa Kao

Ma đưa lối quỷ dẫn đường, tao vô tình vồ được một rổ chữ nghĩa của mấy ông nhà văn miền Bắc...bức xúc với Hà Nội có con đường ngắn nhất tên hồ Hoàn Kiếm. Gần đấy có rạp ciné Lửa Hồng ở phố Hàng Trống. Xa hơn một tí nữa là phố Cầu Gỗ có với cà phê Giảng. Nhưng họ đâu biết Sài Gòn, đường Hiền Vương với Cầu Bông có con phố ngắn nhất là Nguyễn Phi Khanh với rạp Đa Kao. Và cũng chẳng thể thiếu vắng một quán cà phê bằng vào cái tên của chủ quán.

Con phố Nguyễn Phi Khanh có từ đầu thế kỷ 19, theo cụ Hồ Biểu Chánh:"Phố là phố đúc được dựng lên chen chúc lẫn nhau không thứ tự, có cả nhà ngói, hàng rào sắt coi sạch sẽ san sát nhau...".Hay nói khác đi nơi đây nào có khác gì khu phố cổ Hà Nội. Là một góc nhỏ ẩn khuất, khu phố cổ thu hẹp, khép kín của Sài Gòn. Mày nghĩ tao có nói quá chăng? Thì mày hãy thử ngắm mà xem, từ con phố này gặp con phố Nguyễn văn Thạch cũng chỉ mấy trăm thước, ở đó không có cái tấp nập mắc cửi của phố thị, nó trầm lắng cô liêu, im ả tách biệt. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy với bực tam cấp xi măng. Mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt tay nhau được với người đối diện bên kia. Cả con phố ngắn nhất Sài Gòn trên, chỉ với dăm căn nhà chật chội, mái ngói xạm mầu rêu, trồi sụt nhấp nhô. Mà cũng có một cái lạ, như tao đã thưa thốt. Rằng bỏ đi thì nhớ, về gặp lại thấy bồi hồi vì phố cũ vẫn như vậy chẳng đổi thay. Nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng cổ nhân sầu, sầu qua nỗi nhớ cùng con phố ấy một thời tao đã đi lại lắm lần qua những ngôi nhà cửa đóng im ỉm như trơ gan cùng tuế nguyệt.

***
Ở đấy cũng có một quán cà phê mà gần đấy có...cái cột đèn, dường như là cái chỗ người ta dựa lưng đợi nhau. Mà mày đang múa máy chỉ chỏ gì vậy, mày lâm râm hình như căn nhà của cụ thầy bói mù Ba La có vườn hoa giấy. Thằng khỉ, thì như tao vừa nói: đó quán cà phê Thái Chi năm xửa, năm xưa với một nhớ hai quên đấy, thưa mày.Mày còn nhớ chứ, quán là cái phòng khách chỉ đủ chỗ cho ba bốn chiếc bàn, không nhạc, không gì cả trừ bức tranh đen trắng treo trên vách được cắt ra từ một tờ báo ngoại quốc. Tranh chụp một bàn tay dắt một em bé vai đeo cặp sách, mắt mở to, miệng mếu máo, phía dưới có hàng chữ:"Đi học hả? Hôm qua đã đi học rồi mà".

Khách đến với quán nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân, ngồi dai dẳng như muốn dính vào tường. Mà cũng quái, không biết từ hồi nào, khách hễ vào quán cà phê mà ngồi không lâu y như rằng, là tự nhiên cảm thấy...áy náy. Và chị Chi dường như chẳng quan tâm, cái chân lý bất biến của chị là: Khách ngồi không mặc khách. Vì chị còn phải làm công việc...một ngày như mọi ngày của chị. Vậy đấy. Chị pha cà phê nhưng quen tay vẫn là trà xanh. Cả hai chẳng dây mơ rễ má đến nhau. Trà được bốc một nhúm ngang lòng ấm, nước vừa độ sôi, thời gian vừa đủ, nước trà vàng tươi, ngai ngái thơm trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng hột mít, vừa đủ cho vài hớp nước nhỏ. Nhắp một ngụm trà, chuyện trên trời dưới đất, thoáng trông nhàn cư và thoát tục như ai.

Mỗi người một vẻ, như quán cà phê ông Nhân, ông Giảng. Quán đây có rượu rhum, quán đó có bơ bretel. Quán này số nhà 88, cái kia số100. Chẳng mấy ai nhớ đến số nhà của quán chị Chi, chỉ biết rằng nó nằm ở con phố nhỏ Nguyễn Phi Khanh. Ấy vậy mà cách đây mấy năm, ngày chị đi vào cõi tĩnh mịch, có tới hơn hai trăm khách quen theo linh cữu chị để tiễn đưa. Nghĩ cho cùng mấy ai được như vậy. Tất cả chỉ vì cái tình tri ngộ qua hình bóng lắng đọng với cái tên thân quen, gần gũi: quán chị Chi.

***

Chóe Nguyễn Hải Chí (1943 - 2003)

Ừ thì bằng vào tất cả những gì tao nhắc tới qua tạp bút này chỉ là một thoáng ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Mây vẫn bay, ngày vẫn trôi đi, ai chẳng có một cái quán của riêng mình còn đang bồng bềnh ở đâu đó, nơi quê nhà. Và ngẫm cho cùng nếu có đi hết đất, có đi hết biển, ai cũng chẳng có một hạt sạn trong chiếc giầy, mới đầu chỉ bằng hạt cát, theo tuổi tác cứ lớn dần bằng hạt đậu, hạt sỏi rồi thì to bằng quả núi Tu Di. Để rồi...một ngày: "Anh về thăm chỗ đợi xưa - Cây cột đèn ấy hình như nhớ liền - Căn nhà có cội mai vàng - Người ta đã đốn mở hàng cà phê". Ừ thì bằng vào cái tuổi vắng gió đìu hiu này...Mấy ai chẳng một lần hòai cổ, hoài cố quận với hoài cố nhân cùng Sài Gòn vắng những cơn mưa.

Rồi mày cũng sẽ có một ngày...

    Phí Ngọc Hùng

Nguồn: Đếm sổ đoạn trường có đến hơn 20 bài viết về những quán cà phê. Và bài viết này được phỏng theo những tác giả như: Văn Lang, Nguyễn Huy Thiệp, Uyên Giang, Lâm Thiếu Mai, Hoàng Châu, Nguyễn Quốc Trụ, Đào Vũ Anh Hùng, Võ thị Điềm Đạm, Võ Phiến và nhiều nữa, nhiều như những quán cà phê Sài Gòn ngày nào vậy - Nay kính.

VN- Gây quỹ cứu giúp lũ lụt và Nghị định 64]

posted Oct 30, 2020, 10:37 PM by Andy Nguyen




Nghị định, thông tư và danh dự nhà nước


21:46 | Posted by BVN1
Hoàng Hoành Sơn
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01/7/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Căn cứ Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ về vận động, tiếp nhận, phân phối, sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo (1).
Kèm theo những trích dẫn về Nghị định 64 trên đây là các công văn, điện khẩn cấm đoán các đoàn thiện nguyện trực tiếp cứu trợ dân vùng lũ đang gặp muôn vàn khó khăn cần cứu giúp, vì quy định đảng và nhà nước nó là như thế (2). Nên trong thực tế nhiều đoàn thiện nguyện đã phải chở hàng rời đi vì cán bộ địa phương không cho phân phát quà hàng tới tay người dân. Quyền được sống của người dân bị đảng và nhà nước xem thường tới mức không tổ chức nào được hỗ trợ dân vùng lũ ngoài đảng và các tổ chức của đảng (?!)
Trong khi ở các nước phát triển, các tổ chức Phi Chính Phủ (NGOs) tự do hoạt động trong các công tác cứu trợ khẩn cấp; và những chương trình phát triển bền vững cho cộng đồng của họ đã có từ những thập niên 50 của thế kỷ trước (3). Các NGOs không bao giờ giao tiền vào tay chính phủ, mà chính họ sẽ giữ nguồn tiền để trực tiếp phân phối về các dự án do họ quản lý, điều hành. Chính quyền địa phương chỉ có chỉ định một phó chủ tịch tỉnh hoặc huyện để đại diện cho chương trình mà thôi.
Nhờ thế mà mỗi năm tài khóa, các NGO này đã giúp hàng tỷ đô la cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam được hưởng cả trăm triệu đô để xóa đói giảm nghèo (4). Và số tiền này được đầu tư trực tiếp giúp nâng cao đời sống cộng đồng và đến tận tay người dân khi cần kíp. Các tổ chức này âm thầm làm việc; họ không phô trương cũng không hề quảng cáo trên báo đài để thu thêm bất cứ đồng nào của người dân trong nước; họ cũng không cần giấy chứng nhận hộ nghèo để rồi mới khởi đầu dự án trợ giúp. Nhưng công việc họ làm luôn có kế hoạch, chương trình, dự án và cách thực hiện hết sức cụ thể, hiệu quả và phân bổ nguồn lực chu đáo đúng theo lời cam kết và các giá trị tùy mỗi tổ chức.
Các NGO ủng hộ triệt để quyền sống và phát triển của hết thảy mọi người, và tinh thần tương thân tương ái với nhau lúc nguy khốn. Những thiên tai nhân họa chợt đến khiến người dân đang sống an lành phải cần đến những cánh tay chìa ra cứu giúp ngay tức thời. Đây là lúc những gói đồ ăn, chai nước sạch cần được ưu tiên hàng đầu cho đồng bào giữa dòng nước lũ mênh mông không biết trông cậy vào đâu. Chờ đến khi giao tiền cho nhà nước, chuyển ngân sách phân bổ từ trung ương về địa phương, hết họp rồi bàn rồi tranh giành nguồn tiền thì dân đã kiệt sức mà chết.
Dài dòng về các tổ chức phi chính phủ như thế để cho thấy cả guồng máy đảng và nhà nước cồng kềnh, đầy dẫy bộ – ban – nghành từ địa phương đến trung ương; đầy các hội đoàn ngồi không nhưng nhận lương ngân sách nhà nước hàng năm lên đến hơn 45 ngàn tỷ đồng/năm (5). Đấy là theo con số báo đảng tính giúp. Chứ con số thật phải cao hơn nhiều. Vậy mà chẳng có hội nào can đảm xông pha ra miền Trung hoặc có kế sách cắt giảm ít chục tỷ ngân sách giúp đồng bào. Họ chỉ biết ngồi bàn giấy ra công văn cấm đoán mặc cho nhân dân khốn đốn trong vùng rốn lũ.
Vả lại tại sao lại có kiểu người đứng đầu đảng và nhà nước kêu gọi hỗ trợ đồng bào vũng lũ (6), đang khi cấp dưới lại ra công văn cấm các đoàn từ thiện tiếp cận địa phương nhận hàng hỗ trợ? Tại sao mỗi năm đến mùa lũ chả bao giờ thấy được sự trợ giúp thiết thực của đảng và nhà nước? Người dân chỉ có thể nhận được hỗ trợ của đảng trên tivi, nhận những bánh vẽ to ơi là to mà không bao giờ có thể ăn được hay ăn no. Và các quan chức địa phương ngồi đó chực chờ cướp tiền cứu trợ mỗi khi có người nổi tiếng nào huy động được nguồn tiền từ thiện khủng (7).
Ngay cả 100 ngàn đô la Đại sứ quán Hoa Kỳ trao cho nhà nước hỗ trợ dân gặp lũ không hề được nghe nhắc đến sẽ có những hướng sử dụng cụ thể nguồn tiền này như thế nào (8). Và rồi VN đã hỗ trợ chính quyền TQ, dịp Covid-19, 500 ngàn đô la tiền vật tư thiết bị y tế, hội chữ thập đỏ hỗ trợ 100 ngàn đô (9). Sốt sắng giúp TQ như thế sao người dân miền Trung ruột thịt lại không được cắc bạc nào từ đảng và chính phủ?
Người Việt Nam cần hiểu thêm về những khái niệm cứu trợ khẩn cấp và phát triển cộng đồng dài hạn, mà trách nhiệm đầu tiên thuộc về Nhà nước đang điều hành đất nước. Bất cứ tổ chức tôn giáo hay tư nhân hoặc nhà nước nào đều có những nguồn thu nhất định. Họ cần có những kế hoạch chi tiêu hợp tình hợp lý và biết dành ra những khoản riêng dành cho những thời điểm nguy cấp cho tổ chức, cộng ty hoặc quốc gia tùy theo khu vực địa chính trị; chẳng hạn vùng dễ gặp hạn hán, ngập mặn, nhiều mưa bão, hay chịu lũ lụt.
Cho nên phải có kế sách dài hạn và nguồn tiết kiệm để làm kho lương thực dự trữ, các nguồn hỗ trợ thiên tai, tiết kiệm cứu trợ khẩn cấp cho người dân dưới bất cứ hình thức nào. Không phải chờ đến khi nguy cấp mới đao to búa lớn rằng mở kho dự trữ quốc gia, gói hỗ trợ này, chi ngân sách nhà nước kia mà rốt cuộc người dân nghèo không bao giờ nhận được.
Như đại dịch Covid-19 vừa qua với các gói hỗ trợ 62 ngàn tỷ đến được tay người dân như thế nào? Chỉ riêng việc hành hạ người nghèo đi chứng giấy xác nhận hộ nghèo ở chính quyền địa phương gây biết bao phiền toái; người nghèo cần hỗ trợ khẩn cấp không thể tiếp cận được nguồn tiền cần kíp trong cơn nguy cấp.
Đến nay chỉ những gia đình có đảng hoặc có người thân làm công bộc tại địa phương là được nhận (10). Rồi tái xuất hiện những lá đơn theo kiểu: những người ăn xin, những bà cụ già thiếu ăn viết đơn xin không nhận gói hỗ trợ từ nhà nước để nhường cho người “nghèo” hơn (11). Đây là những chiêu trò khiến người dân mất hẳn niềm tin vào đảng và nhà nước. Trong cơn khốn khó mới biết ai thật tâm muốn giúp đỡ người hoạn nạn. Những kiểu chơi chiêu khiến đảng mất danh dự, mất niềm tin trong tâm hồn người dân. Nên không ai gởi tiền nhờ nhà nước đi cứu trợ thay là điều dễ hiểu.
Vả lại việc cứu trợ là bổn phận của nhà nước. Nhân dân đóng thuế để nhà nước phải chi tiêu hợp lý và hỗ trợ người dân khi cần. Tại sao đảng viên cứ chực chờ đòi nắm lấy phần tiền bà con tin tưởng gởi cho Thủy Tiên chẳng hạn. Vì sao cứ đòi chuyển tiền từ thiện để Mặt trận tổ quốc và hội chữ thập đỏ, vốn nhiều tai tiếng và không có kinh nghiệm cứu trợ khẩn cấp, nắm giữ?
Cơn lũ mấy tuần vừa qua hoành hành ở các tỉnh miền Trung từ cao nguyên xuống Quảng Nam, ra Huế, Quảng Trị, Quảng Bình khiến hơn 100 người chết. Hàng chục người mất tích. Tổn thất về nhà cửa, hoa màu và nguy cơ đói ăn, dịch bệnh vì vệ sinh môi trường kém sau khi lũ rút là rất cao. Phải nói đây là tình trạng khẩn cấp quốc gia, vậy mà Quốc hội họp hành chỉ để tưởng niệm tướng Nguyễn Văn Man, đại biểu quốc hội, cùng các quân nhân; mà không hề có lời nhắc đến gần 100 dân thường thiệt mạng do thủy điện xả lũ vô trách nhiệm gia tăng cường độ cho dòng lũ.
Tại sao như thế? Mạng sống đại biểu, đảng viên được xem trọng hơn người dân chăng? Sống mặc dân chết cũng mặc dân là phương châm của đảng và Quốc hội chăng? Đảng vẫn họp đại hội cờ xí rợp trời như bình thường; Quốc hội vẫn bàn luận tiêu tốn ngân sách mỗi ngày một tỷ đồng theo thường lệ như không hề có hoàn cảnh đau thương của người dân miền Trung tồn tại.
Thêm vào đó là những công văn nghiêm cấm các đoàn thiện nguyện trực tiếp cứu trợ dân là sao? Để mặc dân đói để gây áp lực moi tiền từ thiện hay sao? Nguyên do tại sao dân không tin tưởng giao tiền cho nhà nước hoặc các UBMTTQVN, hoặc hội Liên hiệp phụ nữ hay UBND tỉnh, huyện, xã? Tại sao người dân chia sẻ tình thương với người dân vùng lũ qua những người đáng tin cậy để mang quà đến tận tay người dân lại bị cấm đoán? Chính người viết trong một dịp đi cứu trợ mùa lũ năm 2016, ở một xứ nghèo Quảng Bình đã gặp tình trạng: sau khi đoàn cứu trợ rời đi, chính quyền xã trực tiếp gọi loa phóng thanh bắt dân mang quà tiền cứu trợ lên nộp lại cho xã. Họ chỉ được nhận lại một phần tư giá trị số quà tặng. Thử hỏi ai còn dám tin tưởng chính quyền để mà giao trứng cho ác.
100 tỷ giao cho Thủy Tiên còn cơ may đến tận tay người cần hỗ trợ; nếu 100 tỷ đó giao vào tay chính quyền hoặc các tổ chức, hội đoàn nhà nước sẽ có bao nhiêu phần trăm đến được tay người dân; chưa kể đảng và chính quyền còn mượn hoa kính phật, gom luôn công đức từ tiền của các nhà từ thiện khắp nơi trở thành ân bác, ơn đảng, công cán bộ. Chúng còn được tính luôn vào số tiền đảng đã hô hào chi từ ngân sách v.v… và rốt cuộc đảng không bỏ ra đồng nào vẫn có tiếng và có miếng.
Trở lại vấn đề danh dự, không cần các dư luận viên mượn mồm các đảng viên cách mạng lão thành kêu gào: rằng thì là hãy giao tiền cho đảng phân phát thay; nếu dân tin đảng, họ tự khắc góp tiền cho đảng đi cứu dân vùng lũ. Ở đây dân đã đúng, họ không dại gì giao đồng tiền mồ hôi nước mắt, đồng tiền mà họ phải bớt xén chi tiêu trong gia đình để san sẻ cùng đồng bào miền Trung, cho những kẻ ăn hại đái nát, những kẻ tham nhũng tàn phá tài nguyên rừng. Chính đảng và nhà nước quản lý yếu kém khiến tình trạng phá rừng xây biết bao đập thủy điện tàn phá môi trường, xả lũ khiến nước lụt tăng cao đổ thẳng về nơi dân cư đông đúc gây bao hậu quả khôn lường và năm nào cũng tái diễn cảnh này.
Chính đảng và nhà nước giáo dưỡng biết bao kẻ thất nhân tâm luôn tìm mọi cách vinh thân phì gia; đại diện dân ở Quốc hội còn mua quốc tịch nước ngoài 70 tỷ, đảng giết cụ Lê Đình Kình, tuyên án tử hình hai con của cụ, bỏ tù người thân cụ như vụ Đồng Tâm; thủy điện, đảng quản lý xả lũ tàn hại dân v.v…thì làm sao đảng còn đủ danh dự để dân tin tưởng. Kẻ gây tai họa lại bắt người bị hại đưa thêm tiền cho hắn để giảm thiểu thiệt hại do hắn gây ra; và rồi nguồn tiền của những người từ tâm lại tiếp tục làm đầy túi những kẻ thủ ác, thử hỏi còn đất trời nào dung thứ? 45 năm qua, người dân cả nước đã mất niềm tin vào đảng cộng sản gian dối, đang dần hủy hoại đất nước này.
Ngay cả Bộ trưởng Bộ TT và Truyền thông, vừa xuất bản sách “tự diễn biến, tự chuyển hóa” lại đi thẳng vào nhà tù do bản thân ngài bộ trưởng ấy cũng tự diễn biến, tự chuyển hóa (12). Tướng công an lẽ ra phải làm điều đúng đắn, ngăn cấm cờ bạc, lại đi bảo kê mạng đánh bạc ngàn tỷ; quân đội lẽ ra tập trung lo bảo vệ tổ quốc lại chuyên lo làm kinh tế, Viettel, thủy điện, ngân hàng quân đội .v.v… lo xây biệt phủ…thì thời gian đâu phác thảo kế hoạch chống ngoại xâm? Tòa án xử xét biết bao vụ án oan sai, tham nhũng bảo vệ những kẻ hối lộ; hai thiếu niên đói quá ăn cắp mấy ổ bánh mì đi tù gần năm (13); trong khi tham ô hàng chục ngàn tỷ như Tất Thành Cang chỉ bị phê bình vì hết thời hiệu xử lý (14).
Vậy ai dám tin tưởng mà giao tiền cứu trợ dân nghèo miền Trung vào tay đảng giữ thay phát giúp? Lấy gì bảo đảm đảng viên lại không xén bớt hoặc chỉ phát cho nhà có công cách mạng vốn nhà cao cửa rộng. Hoặc chỉ phát cho con cháu trong gia đình? Dân xin đủ. Đảng đã cho dân nhiều bài học đau thương lắm rồi. Dân cả nước đã “sáng mắt sáng long” nên Thủy Tiên nhất hô là bá ứng ngay 100 tỷ. Đang khi tổng bí thư kiêm chủ tịch nước lên đài phát thanh, báo đài ủng hộ lan truyền hết cỡ cả nước vẫn chả có tỷ nào đáp lại lời kêu gọi tha thiết của ngài chủ – tổng.
Chỉ riêng hai hình ảnh:
– Hình ảnh cô Tiên lặn lội trong mưa gió giữa vùng lũ nguy hiểm trao quà tận tay người dân; thậm chí khi bị lừa 3 triệu đồng cô Tiên vẫn cố gắng lấy lại cho bằng được vì đó là tiền “niềm tin” dùng để cứu người gặp nạn (15). Kết quả hơn 100 tỷ được đóng góp vào tài khoản cô Tiên.
– Hình ảnh cụ tổng bí thư kiêm chủ tịch nước đứng trong đại hội đường, sáng lòa ánh điện, ngập tràn cờ hoa kêu gọi người dân trong và ngoài nước đóng góp cứu trợ. Chỉ có các đảng viên vỗ tay hoan nghênh và ra công văn cấm tiệt các đoàn từ thiện, cũng như kêu gọi chuyển hết tiền để đảng lo.
Hai hình ảnh đó đọng lại trong tôi và quý độc giả những gì? Và nếu muốn cứu dân vùng lũ, bạn sẽ chuyển tiền từ thiện cho ai, cô Tiên hay cụ Trọng?
Tư liệu tham khảo:
H.H.S.

Photographie Environnementale 2018

posted Sep 30, 2019, 1:17 AM by Andy Nguyen


Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh Sáng

posted Aug 16, 2019, 9:00 PM by Andy Nguyen   [ updated Aug 16, 2019, 9:02 PM ]


2019-08-16 : Nghề chơi cũng lắm công phu :
Claude Monet, Họa sĩ Của Ánh Sáng

Phan Văn Song


« …. Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều ... » Nguyễn Du. Kim Vân Kiều (câu 1202- 1203)
 
     - « Với Claude Monet, nước cũng cả là một sự sống động, có chiều sâu và là sự thật ! Nước, rung chuyển, xoáy thành giòng, rung động, nhịp nhàng quanh những chiếc thuyền con, bập bềnh cùng với những bụi lục bình xanh đầy hoa trắng. Nước chuyển mình, trãi dài thành những ao con gợn sóng dưới ngọn gió chiều. Nước kéo dài, bẻ gảy những cột bườm đang soi bóng, hòa trộn vào ánh sáng tò mò, len lỏi, soi rực những giọt nước đục ngầu – Chez Claude Monet, l’eau est vivante, profonde, vraie surtout. Elle clapote autour des barques avec des petits îlots verdâtres coupés de lueurs blanches. Elle s’étend en mares glauques qu’un souffle fait subitement frissonner, elle allonge les mâts qu’elle reflète en brisant leur image, elle a des teintes blafardes et ternes qui s’illuminent de clartés aigües »
Émile Zola 1868. PVS dịch thoát

Claude M.jpg


Thằng con Cả  của gia đình tôi, Cyril « Kongo » Phan, họa sĩ Đường Phố - Graffiti, được giới nghệ sĩ quốc tế gọi là Mister Colorful, Ông Mầu Sắc, vì hắn « chơi » mầu sắc rất độc đáo và đặc biệt, thường, thỉnh thoảng khi cha con gặp nhau, để gạt bỏ ngoài tai, những chuyện làm ăn hay thị phi ồn ào, để cần cha con thoải mái nói chuyện gia đình, riêng tư, tình tự, thường rủ tôi đi thăm Vườn Giverny, nơi có Museum Claude Monet. 
Giverny, xa Paris khoảng 75 cây số, trên một giờ lái xe, nơi xưa kia là tư thất của họa sĩ Claude Monet, nhưng nay là nhà triễn lãm thường trực của tất cả công trình nghệ thuật của danh họa Claude Monet, người cha đẻ của trường phái hội họa Ấn Tượng – Impressionnisme ! Con tôi rất mê Monet, vì ông là họa sĩ của Ánh Sáng ! Ông là ông thầy của cách chơi Ánh Sáng !
Ông có thể vẽ, chỉ một cảnh, chỉ một chủ đề, chỉ một góc độ nhìn, nhiều tranh khác nhau, với nhiều thời khắc khác nhau, với nhiều ánh sánh khác nhau, sáng trưa chiều, rạng đông, chạng vạng, hoàng hôn… Chỉ một cảnh vật, nhưng họa thành nhiều tranh với nhiều ánh sáng khác nhau … Thật đúng là triết lý của cuộc đời, cũng một con người … thời gian khác nhau, cái nhìn khác nhau, những con người khác nhau ! Bài học nghệ sĩ, bài học đời !
Đến Giverny, viếng mãnh vườn thật của ngày nay, xong, nhìn cũng mãnh vườn ấy qua những tranh đã được vẽ cách đây, trăm năm có lẽ, … cảnh tranh, cảnh thật… Hai cha con tôi, tuổi đời, cách nhau một phần tư thế kỷ ! Con tôi ngày nay, thằng tôi ngày xưa ! Tình tự về hội họa, tình tự chuyện đời như hai người bạn, hắn là tôi, tuổi trẻ, tôi là hắn tuổi già ? Một ngày thoải mái, một thoáng vô tư, thằng Cả tôi rửa cái đầu, quên công việc, hưởng cái đẹp, và tôi, tôi tìm lại thằng con thân yêu, không còn thằng nghệ sĩ bận bịu với nghề, với khách hàng, với cái hằng ngày … Một khoản khắc gia đình quý giá !
 
Quý bà con thân, quý thân hữu quý,
   Nếu có dịp, quý vị qua Pháp du lịch ! Nếu có dịp, quý vị lên Paris du lịch ! Hãy bỏ tý thời gian đi thăm Giverny ! Nếu quý vị không thích hội họa, quý vị sẽ thưởng thức mãnh vườn (rất á đông), vì mãnh vườn cũng được Monet, tạo để giúp công trình hội họa của Claude Monet. Claude Monet đã vẽ, chỉ riêng, cho giàn bông súng trên chiếc ao nhà, không biết bao nhiêu tranh, chỉ khác giờ, khác ánh sáng thôi ! ( Bộ tranh Nymphéas – Bông súng). Đáng để, quý bạn bỏ một ngày viếng thăm !

Mầu Đen không phải là một mầu sắc :

Claude Monet, sanh ngày 14 tháng 11 năm 1840, tại số nhà 45, đường Lafitte, Paris, Pháp. Cha là Adophe Monet, mẹ là Louise-Justine Aubrée. Năm 1945, gia đình rời thủ đô Paris để dọn về Le Havre, thành phố cảng phía Bắc nước Pháp. Tuổi thơ, chàng học rất tầm thường, chỉ thích vẽ. Năm 1851, mới 11 tuổi, mà chàng đã bắt đầu vẽ những chân dung các thầy giáo, cô giáo của chàng và các nhơn vật chánh trị. Năm 1857, mất mẹ, chàng đành bỏ học, và về ở với bà dì Jeanne Lecadre. Bà Jeanne Lecadre lại là một họa sĩ tài tử, sống sung túc ở một biệt thự với một mãnh vườn khang trang, đẹp đẻ. Năm 1859, chàng gặp Eugène Boudin, một nhà báo chuyên nghiệp ngành hội họa. Và nhờ Eugène Boudin dẫn dắt, giới thiệu, chàng được đi vào, làm quen với giới tài tử hội họa, nhứt là với nhóm nghệ sĩ chuyên vẽ cảnh ngoài trời (Lúc bấy giờ, hội họa thường sáng tác trong xưởng, với người mẫu). Được bà dì giúp đở, chàng « lên » Paris, tập tửng vào nghề, bán vài bức hình vẽ - dessins -  của chàng, la cà làm quen với các galeries – các phòng triễn lãm, lang thang nhập cuộc vào các buổi nhậu ở các quán bia - brasseries - bắt tay vào họa tranh – toiles, và bắt đầu triễn lãm – expositions. 
Tháng 4, năm 1861, 21 tuổi, chàng nhập ngũ, đi quân dịch, bị phái đi Algérie, phục vụ tại Trung đoàn 1, khinh binh Phi Châu - 1er régiment de chasseurs d’Afrique. Vì mắc bệnh thương hàn, nên chàng bị gởi trả về Pháp. Chàng về đến cảng Havre năm 1852. Nhờ bà dì ứng tiền bồi hoàn chánh phủ, nên chàng được giải ngũ sớm. 
Và ghi tên nhập trường Mỹ Thuật Hoàng gia Paris – École impériale des beaux-arts de Paris. Ở đấy, chàng học cùng với Sisley, Renoir (những tài danh về họa sau nầy) và đặc biệt chàng được hoạ sĩ Bazille rủ chia xưởng vẽ và sáng tác chung cho đến lúc Bazille mất. 
Năm chàng 26 tuổi, tiếng sét ái tình. Nàng, Camille Doncieux, nguyên là người mẫu của Manet và Renoir. Nàng nhận làm người mẫu cho chàng và chẳng chốc cùng nhau xây tổ uyên ương, năm 1870. Từ nay có gia đình, hai vợ chồng cần một cuộc sống ổn định ! Paris quá đắt đỏ, đời sống khó khăn, tranh chàng không bán chạy, bèn dọn nhà ra ở Argenteuil, ngoại ô Paris. Và cũng để dễ bán, từ nay, chàng không vẽ tranh khổ lớn nữa. Tình trạng gia đình càng khó khăn với những cơn bệnh của Camille. Năm 1879, sau khi đã đẻ cho chàng hai đứa con, nàng mất vì bệnh lao phổi. 
Claude Monet, được một gia đình một mạnh thường quân, ông bà Hoschedé, một kỷ nghệ gia  ngành vãi, một người mê và sưu tập tranh của Claude Monet giúp đở. Và mời Claude và hai đứa con mồ côi mẹ về sống với gia đình họ gồm hai vợ chồng và 6 đứa con, ở Véneuil, gần Pontoise… (tất cả những địa danh nầy đều nằm ở ngoại ô của Paris). 
Năm 1881, ông chồng mất, bà vợ Alice và Claude bèn sống chung với nhau và dọn ra ở riêng ở Poissy. Cuộc tình hai người tạo một xì-căng-đan lớn ở Paris lúc bấy giờ ! Thế nhưng, tranh của Claude Monet lại gặp thời, bắt đầu có giá. Và tình hình kinh tế gia đình cũng theo đó mà khá hơn ! Các galeries - phòng triễn lãm, cạnh tranh trưng bày Claude Monet. Khách Pháp thích đã đành mà cả khách ngoại quốc nữa, đặc biệt khách bên kia bờ Đại Tây Dương. 
Năm 1883, hai vợ chồng cùng tám người con, tậu một căn nhà to rộng ở làng Giverny, một trang trại với một mãnh vườn rộng cả một hecta với cây ăn trái, và vườn hoa, cách Paris khoảng 70 cây số. Từ đây, Claude Monet có hẳn một mạng lưới người mê và chơi, sưu tầm – collectionneurs - tranh ấn tượng – impressionnistes – đặc biệt với khách hàng Huê Kỳ. 
Từ nay, Claude Monet đã thành danh, là một nghệ sĩ thành công với một cuộc sống ổn định! Alice và Claude có dịp chu du khắp thế giới. 
Dù thương vụ nghề bán tranh có khi trồi có khi sụt, nhưng cuộc đời của Alice và Claude từ nay, sung túc hẳn ra. Cho đến năm 1909, Alice đau nặng và mất vào tháng năm 1911. Năm sau, Claude Monet bị bệnh đục tinh thể mắt – cataracte – lòa dần. Phẩm chất tranh bị ảnh hưởng. Năm 1914, Claude mất người con trưởng, và năm 1919 Auguste Renoir người bạn thân. Từ nay, bước vào giá vẽ là một khó khăn, chàng quyết định xin mổ mắt, năm 1923, nhưng, sau đó, thị giác cũng không khá hơn. Ngày 5 tháng 12 năm 1926, Claude Monet mất, sau một cơn sốt sưng phổi do căn bệnh ung thư phổi. hoành hành. 
Ngày đám táng, Georges Clémenceau, Chủ tịch Quốc Hội (Chế độ nước Pháp dưới thời Đệ Tam Cộng Hòa là Đại nghị Chế – parlementaire. Chủ tịch Quốc Hội – Président du Conseil cũng là Chù tịch Chánh phủ – không có chức Thủ tướng). Georges Clémenceau, Chủ tịch Quốc Hội, thay tấm vãi đen phủ linh cửa Claude Monet bằng một tấm vãi nhung mầu xanh nhạt của hoa pervenche, mầu tím của hoa myosotis và mầu đỏ của hoa hortensia – une cretonne ancienne aux couleurs des pervenches, des myosotis et des hortensias ». 
« Không  - ngài thốt lên  -  Với Monet không được dùng mầu Đen -  Mầu Đen không phải là một mầu sắc – Non ! Pas de noir pour Monet ! Le Noir n’est pas une couleur ! ».
Sau thánh lễ ở nhà thờ Sainte Radegonde, Monet được đưa về an nghĩ ở nghĩa trang Giverny.

Từ căn nhà hạnh phúc đến một bảo tàng viện :

Trang trại Giverny, cùng toàn bộ những tranh quý, cùng bộ sưu tầm tranh Nhựt bổn, cả gia tài được giao cho con trai là Michel hưởng và cai quản. Nhưng Michel, năm ấy đã 48 tuổi, quý phái, đẹp trai lại thích đi săn voi bên Phi Châu hơn là quản thủ gia tài của cha mình để lại.  May thay, toàn thể Giverny, trang trại, vườn tược được anh làm vườn Lebret chăm sóc, cho đến ngày mất của Lebret – tháng 12 năm 1947. Cũng từ đó mãnh vườn bị bỏ hoang, thiên nhiên trở lại làm chủ. Và càng ngày càng bị hoang phế, khi Michel mất vì một tai nạn xe. 
Không người thừa tự, nên Michel, đã viết di chúc tặng toàn bộ cơ sở và gia tài mỹ thuật cho Viện Mỹ Thuật – Académie des Beaux-Arts. Viện Mỹ Thuật, gởi toàn bộ sưu tập tranh Nhựt Bổn và tranh của Claude Monet cho Viện Bảo Tàng Marmottan trong lúc chờ đợi, sửa sang. Nhưng làm lại từ cái mái căn nhà, đến sửa sang, sơn phết, trang điểm toàn bộ mãnh vườn, là cả một tốn kém. Như muối bỏ biển, làm bao nhiêu cũng không xuể. 
Năm 1977, Viện Mỹ Thuật giao cho Gérald Van der Kamp. Van der Kamp, với một ít phụ cấp chánh phủ, mở một chiến dịch bảo trợ. Tiền đến từ mọi nơi, nhiều nhứt ở Mỹ. Và trong nhiều năm, tổ chức một cuộc tân trang, tái phục hồi trang trại Monet. Mãnh vườn được thiết kế lại hoàn toàn, chiếu theo những hình ảnh của những bức tranh của Claude Monet. Bộ sưu tập Nhựt bổn từ nay, được treo, sang trọng, trang hoàng những bức tường của phòng khách, phòng ăn, phòng hút thuốc, y như thời sanh tiền của Claude Monet. Toàn thể trang trại Giverny, sở hữu của Claude Monet, nay đã hoàn toàn tân trang lại, là một Viện Bảo Tàng và mở cửa rước du khách dưới sự quản trị của Fondation Monet-Viện Monet ra đời năm 1980.
Từ nay, cho đến đầu mùa Đông, mãnh vườn trăm hoa đua nở, với những loài hoa, loài thảo mộc, được đã được trình bày trên những tranh của Claude Monet. Và Monet cũng tâm sự rằng nhờ những loại hoa nầy mà Monet đã trở thành họa sĩ. Mãnh vườn với 25 ngàn gốc thảo mộc khác nhau, cùng căn nhà xinh xắn, cũng như xưa, với những mầu trắng xanh vàng, với những bức tường gắn carô sứ – carreaux de faïence -  hay dán giấy mầu – papiers peints – từ nay  hấp dẫn, sống động ! Mỗi Mùa Xuân đến, mang đến nửa triệu du khách, sắp hàng, chen lấn nhau hằng năm đến chiêm ngưởng cái căn nhà đầy hạnh phúc nầy đã bao nhiêu năm  ru hồn chàng họa sĩ của những khoảng khắc - le peintre de l’éphémère – ông Thầy của Phái Ấn tượng – Le maître de l’Impressionnisme nầy !

Ấn Tượng : Ngàn Thu trong Tạm Bợ : 
L’Impressionnisme : Saisir l’Éternel dans le Transitoire :

Cái tên « Impressionniste » do một anh bình luận hội họa của tờ nhựt trình « Charivari », năm 1874, dùng để chế ngạo bức tranh « Impression Soleil Levant - Cảm Xúc buổi Bình Minh » do chính Claude Monet vẽ hải cảng Le Havre nhìn qua của sổ phòng mình năm 1872. Nhà phê bình dùng từ « sự chế nhạo của trường phái ấn tượng – la dérision d’école impressionniste » để định nghĩa bức tranh nầy ! 
 -  Vào tên ấy chết luôn, biến thành tên chung của nhóm các nghệ sĩ trẻ cùng thời với Claude Monet, đang tìm cách cởi trói, phá luật, phá lệ, phá mọi ràng buôc của 4 thế kỷ luật lệ Hội họa. Và tất cả, đều từ nay biến thành những họa sĩ phái ấn tượng – les impressionnistes ! Dĩ nhiên là Monet, nhưng cũng là  Manet, rồi Renoir, hay Berthe Morisot, hay Caillebotte hay Degas … Tất cả một lòng, xa lánh, vứt bỏ, phá lệ …  Tất cả xa lánh, vứt bỏ cái hội họa cổ điển của các bực thầy, dùng … mầu đen, dùng mầu xám, để tạo bóng, để tạo cái tranh tối tranh sáng, để tạo chiều sâu,để tạo bóng tối, để tạo cái  ẩn hiện … Tất cả xa lánh, vứt bỏ những luật lệ trộn mầu để vẽ những nhơn vật, để vẽ những hình ảnh, với nhiều chi tiết, như một bức hình chụp … Đối với họ, tranh là một cái gì, táo bạo, mầu sử dụng nguyên chất, dầy cộm, …  Bỏ đi những nét vẽ sắc sảo, sao đúng sự thật, … Cái quan trọng là mầu và ánh sáng. 
Chẳng chốc các phòng triễn lãm, thời ấy, tẩy chay, ... cấm cửa, không nhận những anh chàng « tô mầu dốt đặc ngành hội họa nầy – ces barbouilleurs qui ne maîtrisent pas la peinture ».Thật vậy, với đám nghệ sĩ mới nầy, hội họa là một quan niệm trừu tượng, gồm ánh sáng và mầu sắc. 
Kỷ nghệ làm sơn trình sơn dưới dạng những ống sơn mầu đã mở cửa người nghệ sĩ. Từ nay, có thể vác gía vẽ ra đồng, ra ruộng để vẽ tranh bán, không cần phải ở trong xưởng vẽ nữa ! Giá vẽ lưu động, con người lưu động, cây cọ nhẹ nhàng nhảy múa, với những nét chấm phá, nhị nhàng, người nghệ sĩ không cần đi tìm một cái đúng, một cái thực, mà chỉ đi tìm cái động  cái dnág, cái ảnh … Những hình, những dáng, những ảnh nhòe đi, nhảy múa… trong các khung đầy ánh sáng… Những nhơn vật, lẫn lộn, hòa trộn trong một không gian đầy ánh sáng, đầy mầu sắc… giòng nước, ánh sáng, mầu sắc không hòa trộn nhau mà đặt cạnh nhau đễ chính đôi mắt  của người ngắm tranh hòa lẫn, trộn lẫn nhau… 
Các nghệ sĩ ấn tượng chơi mầu, chơi ánh sáng, táo bạo, ngoại lệ, lợi dụng khói, sương, nước và ánh sánh phản chiếu trong những vật ấy … Họ có thể ngồi hàng giờ, để rình bắt cho được một giọt nắng, một ánh mặt trời, thấp thoáng, le lói, phản chiếu … trong một khung cảnh rất bình thường, rất hằng ngày … Claude Monet, chẳng hạng, mê mẫn, có thể suốt một ngày, chỉ đi tìm một ánh nắng, một giọt sáng «  có ý nghĩa – để đối thoại với tâm hồn chàng » … Nếu không tìm ra, chàng không ngần ngại, xóa bỏ, rửa sạch bức tranh bằng xà bông và vẽ lại  … Chàng không muốn sao chép, hay chụp hình thiên nhiên, chàng muốn tả thiên nhiên qua cái nhìn, các xúc động của mình … chàng muốn thiên nhiên đối thoại với mình ….

Để kết luận : 

Ngày nay, thị trường tranh của phái ấn tượng đang phá tất cả những giá cả trên thị trường. Vừa qua một bức « Bông súng - Nymphéas » được bán với giá 30 triệu euros. 
Mong sao các bảo tàng Viện Pháp đừng vì ham tiền, đem bán các tranh Ấn tượng …


Hồi Nhơn Sơn, một Tháng Tám đầy nắng 
Phan Văn Song 

Chiếc Xế Một Thời

posted Aug 14, 2019, 11:09 PM by Andy Nguyen




Pour les yersiniens ... nostalgiques de Saïgon
Les dernières années de Saïgon
Marabout PVS LY61


2019-08-09 : Những Cuộc Tình với Xế  Hộp:
  Chiếc Xế Một Thời
 FORD MUSTANG

Phan Văn Song
 
« vanitas vanitatum omnia vanitas - vanité des vanités, tout est vanité. Kiêu căng của những kiêu căng, tất cả chỉ kiêu cang»                                                                                       L'Ecclésiaste – Sách truyền đạo 1.2
Thưa quý bà con,                                                                                                                       Thưa quý thân hữu,
« Le Moi est haïssable – Cái Tôi đáng ghét ». Hôm nay lại để cái tôi kể chuyện, kể về cái thú mê xế hộp, với những chiếc xế một thời, mà thằng tôi mua chơi. Vanité - Kiêu căng, hợm mình, được Kinh thánh Việt Nam dịch là « hư không, tất cả là hư không », do đó, phải kết luận, rồi mọi chuyện, cuối cùng trở về, với hư không  Vì vậy, xin phép quý bà con, quý thân hữu, vài hàng mạn phép, để « cái đáng ghét, cái thằng tôi » kể chuyện đời xưa với những thú vui, để chia sẻ, mua vui vài phút ! Mai nầy, buông tay xuống, trở về với hư không !
« Toutes choses ont leur temps, et tout passe sous le ciel, après le terme qui lui a été prescrit- Mọi sự gì cũng có thì tiết, mọi việc dưới trời đều có định kỳ »                                 L'Ecclésiaste-Sách truyền đạo 3.1
Do đó « Chơi xuân kẻo hết xuân đi / Cái già xồng xộc nó thì tới nơi” như văn hào Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) đã dạy ta.  Và cũng như thi hào Pháp Ronsard, lúc xưa, (1524-1585)               đã khuyên người tình Hélène, trong bài thơ cho Hélène :                                                           « Hãy nghe tôi, hãy sống đi, Đừng chờ ngày mai,                                                                   Hãy hái những hoa hồng ngày hôm nay  -  Vivez, si m'en croyez, n'attendez à demain :
Cueillez dès aujourd'hui les roses de la vie. …. ». Vậy thì :
 Carpe Diem :
   Tánh tình thằng tôi lập dị, có lẽ hơi ngông, có những thú, đam mê hổng giống ai !                    -  Thuở nhỏ, tôi rất mơ xế hôp loại lạ, loại xế hộp hổng giống ai. Những Peugeot 404, Mercedes, … thiên hạ mê, tôi không thích. Thằng tôi lại thích xe do người Anh sản xuất ...  Jaguar, Austin, Triumph ... ; và tôi cũng rất mê xe Huê kỳ, nhưng loại sedan 2 cửa, hay fastback … Oldsmobile Cutlass, Cadillac, Mustang ... ; còn nếu nói xe Pháp, tôi chọn xe xưa đời 50,60, hơn là thời bây giờ, nếu Đức tôi chọn BMW hơn Mercedes ; riêng xe Nhựt tôi thích Mitsubitchi, Honda, Subaru hơn là Toyota … Đó là sở thích không cắt nghĩa được !                  -  Ngày nay, già rồi, trái lại, tôi thích mua lại xe cũ, xe vứt của người khác, rồi nhờ bạn bè, dân biết làm máy giỏi tân trang lại … (vintage hay old timer hay young timer). Tôi hãnh diện đi xe cũ, sửa sang, tân trang làm máy lại, chạy ngon lành, hãnh diện với giá mua rẽ, nếu được cho không lại càng hãnh diện nữa … Từ 10 năm nay, bốn chiếc cuối cùng, tôi đều mua lại xe do bạn bè vứt đi ... ai cho xe gì tôi nhận cái ấy. Ngày nay, tôi còn hai chiếc. Năm 2017, chiếc Renault Clio đời 1997. Số là, từ ba năm nay, Paris cấm không cho chạy vào thành phố các xe quá cũ, sợ ô nhiễm. Xe Clio nầy, do người con trai anh bạn thân đã lâu, lượm được từ garage một người bạn già vứt bỏ, bỏ công trong nhiều tháng, tà tà tân trang, làm máy, phụ tùng hoàn toàn mới, cho cô vợ làm chưn đi làm ! Thế nhưng, khi sửa xong, thì vào lúc Paris ra lệnh cấm các xe cũ trước năm 1998 chạy vào thành phố ! Đành phải vứt sao ? Tình cờ đúng dịp, thằng tui lên Paris thăm bạn, nghe chuyện. Tôi đề nghị cháu bán lại - giá cả công trình tân trạng – thằng cháu chịu chơi, ngon lành, chỉ lấy lại tiền phụ tùng làm lại chìếc xe thôi, tiền công thằng cháu tặng chú! Xe đem về làng, chạy ngon lành từ hơn hai năm nay, bà xã dùng để đi chợ, một năm chạy chưa đầy 5 000 cây số. Và chiếc thứ hai là chiếc tôi đang xài. Cũng là gặp dịp ngon lành : Mitsubitchi Outlander máy 2 ngàn 400 phân khối, bốn bánh thường trực, 4x4, công suất 160 mã lực, uống xăng như uống nước, nay vì xăng lên giá, mắc quá, nên ông chủ người Pháp dân ngoại ô Paris bèn - qua một người quen giới thiệu - bán rẽ cho tôi – Tôi chịu tốn tí tiền, đổi nhiên liệu - cũng nhờ chổ quen biết - nên chi phí thay thế chỉ tốn 1500 € thôi, để ráp một bộ phận giúp xe từ nay chạy  bằng khí  của dầu hỏa GPL ( 7 cắt một lít, thay vì 1,5 € một lít xăng). Tổng cộng mua và sửa, tất cả là 3 500€. Đem về chạy ngon lành … Từ nay, các thành phố lớn như Poitier…. Hay Lyon, Bordeaux Toulouse Paris, gặp trời ô nhiểm bụi bậm cấm xe cũ vào ! Trái lại, xe tôi, chạy bằng khí trong sạch vào ngon ơ ! Chiếc xe sanh năm 2004 – tuy cũ, tuy đã 15 năm, nhưng nhờ anh chủ cũ, vì xăng mắc, vì quá to, nên sử dụng hà tiện do đó chỉ xài mới trên 100 ngàn cây số thôi !! Ngày nay, vợ chồng thằng tôi, người của thời cũ, đành dùng vật cũ ... les old timers together ! 
 -  Thuở thiếu thời, hồi sanh viên,ở Pháp, cũng đã mê xe lạ rồi. Đi một năm là chán, hể có dịp là đổi xe. Năm 1964 vừa ra trường đi làm, ngay Hè năm đầu 1965, sắm ngay chiếc xế đầu tiên là chiếc Panhard Tigre, hổng giống ai, máy flat-twin công suất 6 CV (giống Citroën 2CV, giống Porch, giống moto BMW) 6 chổ ngồi, để chở bạn bè đi chơi. Năm sau, chơi ngon hơn, nhưng ích kỷ, đi một chiếc Peugeot 203 mui trần 2 chổ ngồi. Gặp em Chantal, chịu chơi, thích xe Anh, hai đứa đổi sang xe sport, trẻ trung hơn Austin-Healey Spitre, với cặp đèn như cặp mắt ếch - frog eyes - mui trần … Ở Toulouse, lúc đó cũng độc nhứt vô nhị ! Hai năm sau, lấy nhau thằng Cả ra đời, bắt buộc từ nay phải  hai xe, vì hai đứa làm hai ngã, giáo chức, em đi làm xa, thứ hai lái đi, thứ sáu lái về, em lựa chiếc Citroën 2 Ngựa, thằng tui đi làm gần, sáng đi chiều về đưa rước gởi con, nên chọn chiếc Renault 4 mã lực (để nhớ Taxi Sài gòn)  Giáo chức nên phải sống bình dị, nhưng lỡ ngông rồi, tôi vẫn ngông ! Những năm cuối cùng từ cuối năm 1969 đến 1971 là năm làm luận án, trước khi về nước, nàng bán chiếc 2 Ngựa, mua chiếc Renault 4L mới toanh cáu cạnh, mình cũng chán chiếc 4CV bèn mua lại chiếc VW con Bọ Hung 1200 - Beetle – Coccinelle cũ  của anh bạn. Đấy là hai chiếc xe cuối cùng của hai đứa trước khi về Việt Nam …
 -   Khi mới về Sài gòn, bơ vơ của thuở ban đầu, tuy giáo chức Đại học đấy, nhưng lương ba đồng ba cọc chết đói, ở đậu nhà ba mẹ, phải mượn lại chiếc Vespa Pháp, guidon trần mua 10 năm trước, thời sanh viên trường thuốc, khi đi Pháp, để lại cho thằng em. Cuối tháng sáu năm 1972, An Lộc giải tỏa, thằng tôi giải ngũ, biệt phái trả về lại Trường Luật, Trường không xài, cho Ngân Hàng mượn. Nhờ được phép làm việc với Ngân Hàng, từ đó đời lên hương.       -   Lại thêm may mắn gặp quới nhơn, bạn hiền, bạn H. Vốn là dân mua bán xe, thấy tôi lanh lợi, nên rủ thằng tôi hùn hập mua xe cũ, tân trang, sơn sửa, chùi láng, bán lại kiếm lời. Thằng tôi, với cái chức vụ Giám Đốc ngân hàng, sẽ vừa sử dụng xe để đi làm, nhưng cũng là vừa để chưng hàng xe luôn, Sáng sáng ra Ngân hàng với xe cáu cạnh, sang trọng, láng coóng, xe đậu trước của Ngân hàng có anh giữ trật tự Ngân hàng trông nom, xem rất le lói ( có lúc đậu cả hai xe cho khách lựa chọn). Khách hàng ra vào, thấy ông giám đốc đi toàn xế xộp, le lói, nên khen, khoái, dòm ngó,  nếu thích, hạp nhãn, hạp túi tiền, hỏi mua, được giá, thì mình bán, tiền lời mình chia với anh bạn chuyên nghiệp, sau khi trừ chi phí tân trang chùi bóng. Xe do anh bạn H.  chuyên nghiệp tìm mua, sửa soạn, ra giá… bán xong anh bạn lại giúp bạn hàng làm thủ tục sang tên. Nói đến đây, nhớ mãi cái ơn, rất lớn, của bạn hiền đã giúp mình qua ải một thời và xin đôi lời tri ơn ! Bạn H. người anh em Không Quân (cựu Trung tá) pilot chịu chơi… dám giao xe, giao tài sản, vốn liếng, cho mình đi cả tháng ! Mình không bao giờ quên ơn bạn. Bạn nay, sau cơn hoạn nạn 10 năm tù đày, sau cơn stroke suýt chết năm xưa, hiện đang sống tuổi già hạnh phúc ở Bắc Cali! Thương nhớ Bạn hiền !
Thằng tui không bán các xe hiệu Âu Châu, các xe ấy, để bạn H. lo, thằng tui chỉ chuyên bán xe Huê Kỳ, tuy khó bán hơn … Chơn ướt chơn ráo mới vào nghề, mà bạn H. dám giao hẳn cho tui một chiếc gần như thường trực, làm cẳng, đi gần suốt cả nửa năm, một chiếc Oldsmobile Cutlass 442 máy 6.600 phân khối, công suất 450 mã lực, 1969 fastback 2 cửa. Giữ đến ra Tết 1973, mới bán được và lời bộn. Nói tóm lại, đời bán xe, từ khi gặp H. giữa  tháng 8 năm 1972, đến cuối tháng 6 năm 1973 … gần suốt cả thời gian làm nghề ngân hàng, nhờ bạn giúp, thằng tui được, xài, lái được một lô xe cáu cạnh, ngon lành. Cá nhơn tôi thời gian ấy, sử dụng được 3 chiếc xế ngon lành nhớ đời, 2 xế Huê Kỳ và đặc biệt một xe Đức VW Beetle 1303S máy lạnh mà tôi mua lại hẳn của H, giữ cho bà xã đi một thời gian và cũng bán sau đó . Thế là suốt thời gian sống ở Việt Nam (1971-1980 – với 4 năm tù Việt Cộng ) vợ chồng chúng tôi chỉ còn giữ được một chiếc La Dalat mui vãi là lâu nhứt. Bà xã mua chiếc nầy, ngay sau ngày mất nước, năm 1975, để bả đi làm (Toà Đại sứ, Toà Lãnh sự Pháp) và giữ mãi đến giữa năm 1979, trên 4 năm, đến khi bả bị trục xuất. Không biết bả vứt cho ai. Riêng cá nhơn thằng tôi có chiếc nào bán chiếc ấy, kể cả chiếc Fiat 125 mang từ bên Pháp về - cũng nhờ bạn H... bán dùm. Thằng tôi, thật có phước, thời làm ngân hàng thì đi những xe của H. giao bán, sau qua làm BGI lại có xe hảng cung cấp với tài xế, nên suốt thời gian làm việc ở Sài gòn, trừ mấy tháng hồi mới về, hàn vi, làm việc Trường Luật và đi lính, phải lúc xe đạp, lúc Vespa, sau nầy từ khi vào nghề Ngân Hàng trở đi, lúc nào cũng có xế hộp ngon lành ...
-  Trở lại nghề bán xe (tài tử – a ma tơ). Có những loại xe Mỹ bán rất rất nhanh, như loại Chevrolet Impala, Bel Air... người Việt Nam và người Tàu rất thích… nhưng cá nhơn tôi lại không thích lắm vì 4 cửa… nên khi tôi nhận đi để bán, tôi không giữ lâu, hể được giá là tôi bán ngay ... Chỉ có ba chiếc tôi giữ rất lâu là một chiếc Mustang Fastback 1967, chiếc VW Con Bọ Hung - Beetle 1303S máy lạnh và dĩ nhiên chiếc Cutlass đầu tay … Qua tháng 7 năm 1973, vào làm BGI, vì có xe hảng và không có quyền lái xe nữa, nên thôi không phụ bán xe với bạn H. nữa, chỉ còn giữ chiếc VW, cho bà xã xài thôi ! Lý do chánh là Hảng BGI buộc các chủ sở và giám đốc phải dùng xe hảng, và phải có tài xế lái, nên tôi không còn dịp bán xe nữa.
 Mustang 67 Fastback :
   Hôm nay xin phép kể chiếc xế mà tôi, rất mê và giữ khá lâu để sử dụng riêng. Sau chiếc Cutlass, là chiếc Mustang 1967 Fastback máy V8 390 ci (cubic inches), công suất 320 mã lực … Tôi mê chiếc ấy kinh khủng, mê hơn chiếc Cutlass. Chiếc nầy với cái dáng Fastback, thoáng nhìn, mường tượng giống chiếc Mustang 68 của phim Bullitt… Mỗi ngày lái đi làm, Chúa Nhựt tôi chở bà xã và con đi chơi Vũng Tàu, bà con tụ tập, đến xem dòm ngó, mặc dù dân Sài gòn thời ấy rất quen thuộc xe Huê kỳ ! Tôi giữ trên hai tháng, mặc có hai anh khách người Hoa nài nĩ, mặc anh bạn cằn nhằn, tiền vốn bỏ ra chưa lấy lại được … mà sao tôi cứ ngâm tôm ! Cùng lúc, còn phải bán chiếc Mustang thứ hai nữa, tôi phải thay, hôm đi chiếc nầy, mai chiếc kia, ra sở để chưng hàng. Có hôm tôi đậu cả hai chiếc Mustang, chưng hàng, trước cửa Ngân Hàng, góc đại lộ Trần Hưng Đạo – đường Đồng Khánh –! Cuối cùng, một trong hai anh khách người Hoa hốt được, nhờ trả giá rất cao và còn hứa sẽ cho tôi mượn đi khi nào tôi thích. Còn chiếc Mustang thứ hai, thường hơn, cũ hơn, năm 65, 6 máy, coupé hardtop, nên dễ bán, – chưa đầy một tuần là xong ( dân Sài gòn thuở ấy sợ V8, chọn 6 máy vì V8 uống xăng khùng luôn!). Riêng chiếc VW Beetle 1303S,  bà xã tôi quá mê, vì nó không lòe loẹt, nên tôi mua đứt hẳn của H. để làm quà tặng bà vợ vào dịp Tết 1974 và cũng bán vào đầu năm 1975.
  - Dĩ nhiên tất cả các xe ấy đều xe do người Mỹ sở hữu bán lại trước khi về nước, bảng số màu xanh, mua xong phải ra Quan Thuế để làm thủ tục Việt hóa. Hai chúng tôi, bạn tôi và thằng tôi, nhờ nhiều quen biết nên mượn được « số ẩn tế » cho  các « xe riêng » của các cơ quan đặc biệt, chúng tôi « mượn » xài tạm cho những xe để bán nầy… Anh em ở Sài gòn quen biết nhau cả, nên cũng dễ chịu, làm lơ cho chúng tôi !.
   Đôi lời kể cùng quý bà con, thân hữu, những câu chuyện xưa, tào lao, của cái xứ Sài gòn tụi tui, gọi là giúp cho vui mùa Hè nóng bức nầy ! Nếu bà con nào không thích chuyện đời xưa. Mong quý vị tha thứ !
Ford Mustang : 55 tuổi !
1964-2019, Ford Mustang được 55 tuổi ! Nhiều đời khác nhau, nhưng chỉ một phong độ ! Mustang từng đóng film. Ở Pháp với đạo diễn Claude Lelouche và tài tử Jean Louis Trintignant cùng Anouk Aimé và thành phố biển Deauville. Ở Mỹ với đạo diễn Peter Yates và  tài tử Steve Mac Queen cùng Jacqueline Bisset và thành phố muôn thuở San Francisco !
Nhớ thuở ấy, nhớ thời ấy, và cuốn phim ấy, nhớ đời : Năm 1968, ngày 17 tháng 10, phim Bullitt ra mắt khán giả Huê Kỳ. Bullitt đặc biệt là một phim dành riêng cho những ai từng mê, từng ái mộ, tưng là fans của tài tử Steve Mac Queen và ... của xe Mustang. Sở dĩ ngày nay, người ta không quên phim Bullitt, ấy là nhờ tài diễn xuất của Steve Mac Queen và nhờ 10 phút hai xe đuổi rượt nhau trên đường phố đầy dốc, đầy « cua » của San Francisco !
Chiếc Mustang của Trung Úy Cảnh Sát Bullitt :
Hai tài tử chánh của phim ... phải nhìn nhận, là ... chiếc Ford Mustang Fastback GT 390 mầu xanh lá cây (lam) sậm, mầu Highland Green, và chiếc Dodge Charger mầu đen. Với tiếng máy gầm rú, tiếng thắng rít khi bẻ « cua », và giàn bánh reo nhịp nhàng, cùng làn âm thanh của giàn nhạc của nghệ sĩ Lalo Schifrin, đã, ... trong vòng 10 phút đầy hồi hộp, đứng tim, nhắm mắt, nín thở, ... làm quên hẳn anh tài tử chánh « King of cool », …  Steve Mac Queen !
Mà chính Steve Mac Queen cũng muốn như vậy ! Steve Mac Queen muốn những hình ảnh hai xe đuổi  nhau, rượt nhau phải chạy thực sự, quay thực, diễn thực với phong cảnh thật, trong đường phố San Francisco thực sự, với các dốc, với các khúc quanh, với cái xe tramway muôn thuở điển hình của San Francisco ! Để diễn xuất, để quay phim, thực hiện, hảng phim Warner Bros mua  đến hai chiếc Mustang giống nhau như đúc, đều cho sơn mầu xanh lam Highland Green. Hai chiếc mang hai biển số khung xe – chassis nối tiếp nhau 558 và 559, chuyện hi hữu ! Cà hai chiếc đều được đưa đến garage chuyên nghiệp hóa trang Max Balchowsky để sửa soạn xe thành xe chuyên môn, để quay những cảnh đua giựt gân. Đặt một khung đở đầu – arceau,  trong lòng xe, thay một giàn nhúng cứng hơn và hộp số ngắn hơn… thể thao hơn ! Có lời đồn rằng hảng Ford cũng gởi đến hai chiếc Galaxie để làm xe « bọn du côn »… nhưng xe Galaxie quá nặng để « nhảy » trên những dốc ở San Francisco, nên hảng phim lựa sử dụng chiếc Dodge Charger V8 440 Magnum đen … Khế ước quảng cáo « cà chớn » sao đó ? không ai tuân thủ cả, Ford hình như không trả tiền đã hứa cho phim ? Do đó, để trả đủa, Steve Mac Queen, lột nhãn hiệu Ford trên chiếc Mustang số 558. Chiếc nầy, dùng để quay những pha nguy hiểm, gay cấn. Các pha ấy đều do tay tài tử chuyên nghiệp mạo hiểm, Bud Etkins lái (Steve không được lái những pha nguy hiểm nầy vì hảng bảo hiểm cấm). Sau cuốn phim, chiếc Mustang 558 được bán và mất tung tích trong vòng 40 năm, để rồi năm 2017, người ta tìm được cái xác rách nát, trong một nghĩa địa xe ở Mễ Tây Cơ. Riêng chiếc Mustang thứ hai, chiếc với số sườn 559, từ năm 1974, đã do Robert Kiernan làm chủ. Và Robert cũng từ chối không bán lại cho Steve Mac Queen khi Steve nài nĩ hỏi mua vài năm sau. Năm 2019, con trai Robert Kiernan hưởng gia tài ấy !
Mustang Bullitt 2019 vs Mustang Bullitt 1968:
Và năm nay, 2019, Hảng Ford đang cho làm sống lại chiếc Mustang Bullitt. Những chiếc  Mustang Bullitt 2019 nầy, ngoại hình sẽ y chang những chiếc Mustang 1968 của phim Bullitt. Mustang Bullitt 2019 ra đời để kỷ niệm 50 năm Mustang Bullitt 1968. Nhưng máy sẽ mạnh hơn, vọt hơn, và có và chi tiết tân thời hơn, nhờ kỹ thuật thông minh ...
  -  Nầy nhé : Máy V8 5 ngàn phân khối, công suất 460 mã lực.  Mạnh hơn là cái chắc. Cũng được sơn mầu xanh lam Highland Green. Mầu xanh rất Anh Quốc của Steve Mac QueenY chang như xưa ! Cũng như xưa, cũng như Mustang Bullitt 1968, không có thương hiệu Con Ngựa trên mỏm xe, cũng không có tên Mustang trên xe, mủi xe có một vòng sơn bao mạ trắng, và ở đuôi, cặp ống khói đôi trắng, hộp số sang bằng tay, với 6 số, với trên đầu cần số một trái banh Bi da trắng. Niền bánh xe đen, 19 inches, giàn thắng sơn đỏ, nệm bọc da có sưởi ấm vào mùa đông, và dĩ nhiên toàn xe có hệ thống máy lạnh, chiếc Mustang Bullitt 2019 thật sự là một xe hạng sang hoàn hảo. Một mẫu mầu đen  Black Shadow cũng được ra đời, cho những ai lập dị khống muốn giống Bullitt ! Nhưng chắc khó bán !
Để kết luận :
Xe không có gì để chê cả. Dáng Fastback với cái đuôi xuôi, lúc nào cũng đẹp. Cộng một lô phụ tùng siêu đẳng, giúp bạn thay đổi cách lái, từ lái hoàng tử, tà tà đi dạo - Catinat Sài gòn thời xưa hay bờ hồ Dalat, hay dọc Promenades des Anglais ở Nice... đến lái sport hung bạo, ào ạt, rít bánh lúc bẻ cua khi xuống đèo Prenn, hay  khi dọc Côte d’Azur, từ Nice chạy về Monte Carlo ... tùy thời, tùy hứng – tùy tuổi của bạn ? Giàn âm thanh BetO với 12 loa sẽ ru hồn bạn, thoải mại du dương. Những đường may của ghế ngồi, đều tiệp cùng mầu với mầu thùng xe. Thương hiệu Bullitt cùng cả, trên cánh cửa, trên tay lái, không có tên Ford, cũng chẳng có hình Con Ngựa Mustang. Và giàn máy ? Giàn máy 2019 nầy khác hẳn chiếc 1968, Cũng V8 nhưng với 5 ngàn phân khối và 460 mã lực (so với 3900 phân khối và 450 mã lực của đời 1968). Hộp số tay 6 số, thay vì 4 số , … dịu dàng, dễ lái hơn. Với giá bán 54 900 euros, mắc hơn một chiếc Mustang thường ... cở chục ngàn euros. Nhưng, bạn sẽ là Steve Mac Queen, người hùng một thời ….
 
Hồi Nhơn Sơn, tháng 8 Hè 2019
Phan Văn Song 

Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê:

posted Aug 7, 2019, 10:56 PM by Andy Nguyen



2019-08-02 : Mùa Hè nói dóc chuyện Cà Phê:

 Cà Phê

Phan Văn Song

Trời hồng hồng sáng trong trong.

Ngàn phượng rung nắng ngoài song.

Cành mềm mềm gió ru êm.

Lọc mầu mây bích ngọc qua mầu duyên Hè về - Hùng Lân (1922-1986)

 

Hè về ! Ở cái xứ Pháp của thằng tôi đang ở đậu, thiên hạ nói đến Hè là chỉ nói đến hai tháng : tháng 7 và tháng 8 thôi ! Phải, một trong những cái quyền của Con Người, cái Nhơn quyền đòi hỏi qua các cuộc đấu tranh đòi các quyền công dân và các quyền công nhơn, ... là được quyền nghỉ ngơi. Đấu tranh thành công nhứt của của chánh quyền xã hội 1936 Pháp là được nghỉ Hè ăn lương đầy đủ. Thuở ấy 2 tuần, ngày nay 5 tuần và làm việc chỉ 35 giờ một tuần …  Hai tháng Hè, vì thời tiết nóng nực, nên phải cho thợ thuyền công nhơn nghỉ ăn lương đầy đủ - phải vacances, phải nghỉ Hè : 2 tháng cho các học sanh, sanh viên, - một cách bán tiếp các thầy giáo cũng 2 tháng luôn ! Dở lắm cũng 2 tuần cho các công nhơn (ba tuần còn lại để dành cho Mùa Đông hai tuần, và một tuần lai rai )… các dịch vụ cũng bắt chước theo luôn ! ...  tiệm bánh mì đóng cửa – bánh mì là cần thiết, mà cũng vậy ( Việt Nam ta mua gạo, mỗi ngày nấu cơm, người Pháp, mỗi ngày phải đi mua bánh mì, bánh mì baguette không ai trữ cả, chỉ trữ bánh mì Mỹ, mềm, để khi ăn thì nướng thôi và thường dùng để ăn sáng) Các tiệm tạp hóa  nhỏ cũng đóng cửa (tôi thích đi tiệm tạp hóa gần nhà hơn là lái xe ra siêu thị, chật chội ồn ào) … Hè về dân chúng cả xứ Pháp, cả âu châu thoải mái rời nhà đi nghỉ Hè … dắt nhau xuống biển, lên núi, về đồng quê, hay đi du lịch … Mà lạ lùng thay, ở Pháp, hể nói đi du lịch là phải đi thăm xứ lạ … nghĩa là ngoài xứ mình đang ở, chứ đi xuống biển hay đi lên núi, viếng đồng quê lái xe có khi cả 6/7 giờ không được gọi là khách du lịch - touriste mà là estivant – dân đi nghỉ hè (estivant do chữ été - hè) !

Mà các xứ lạ ở âu châu, gần gần giống nhau cả … cũng cây, cũng cỏ, cũng hồ nước xanh, danh lam đâu đâu cũng giống nhau, vật lạ đâu đâu cũng giống nhau… cá nhơn thằng tôi, có cái may mắn, chúa thương tuổi trẻ hay tuổi trung hay tuổi gần già và nay tuổi già, đều phải lang bạt giang hồ đi kiếm ăn, nên đi cùng cả xứ Âu Tây, từ Tây ba Nha – Ý đại Lợi cuối Nam Âu Châu đến xứ Scotland miền Bắc Âu châu, rồi Phi Châu, Trung Đông, hai ba xứ… Mỹ châu, Úc châu thì bà con bạn bè kéo gọi qua thăm viếng … nên ngày nay tuổi già, thằng tui, hơi ngại đi xa, du lịch …

Vẫn biết đi máy bay một cái vù là xong, một giờ bay  vượt không gian bằng một ngày lái xe, nhưng tại sao các thủ tục máy bay quá rườm rà ? Tại sao các phi trường sao quá lớn ? quá rộng ? Tại sao những cái valises, xách tay càng ngày càng quá nặng ?… Vẫn biết có xe đẩy, có xe lăn … có người phục vụ … Nhưng còn nước còn tát, ngồi xe cho người phục vụ, sao coi « kỳ quá »… xe đẩy, xe lăn ngày nay, rồi ngày mai ? Sẽ sắp tới xe hòm, 6 ngựa kéo, sáu người khiên … Thằng tôi tiếc còn quá nghèo, không có máy bay riêng, không có có người xách giỏ, xách valises dùm mình … nên quá sợ du lịch ! Ngày nay, còn thích tự lái xe tà tà đây đó. Nhà lên Paris người ta lái xe 3 tiếng rưởi, 4 tiếng, tôi lái đến 6 tiếng – cứ 1 giờ tôi nghỉ 15 phút, có khi tôi dừng lại ngủ trưa nữa - siesta ! Thôi hỏng nói cái tôi nữa. Có lẽ vì tôi bực mình với cái không khí lúc nào cũng gấp gáp của thế hệ ngày nay … !

Mấy năm gần đây, hè ở Pháp từ nóng nực nay vọt đến nóng bức, nóng đến chó « phải ngáp » « canicule » ! ( từ canicule của Pháp do từ canicula của Ý là chó con (canis của la tinh). Nhưng đó cũng là tên bình dân của tinh cầu Sirius, ngôi sao sáng nhứt của chùm sao Đại Cẩu – la constellation du Grand Chien. Sao Sirius mọc và lặn cùng Mặt Trời vào lúc trời nóng nhứt từ 22 tháng 7 đến 22 tháng 8, do đó các nhà khoa học dùng từ canicula để gọi những ngày nóng nhứt (thằng tôi PVS xin dịch thoáng thành « chó ngáp » ! Vì khi chó bị nóng qua, chó hả miệng, thè lưỡi để kiếm hơi gió !)

Nói đến trời nóng, phải nói đến thức uống giải khát… Một trong những thức uống thường trực hằng ngày của thằng tôi là cà phê ! Cà phê, tôi uống suốt ngày, tôi pha một bình cở trên một lít, sáng pha tối hết, sáng sau pha bình mới ! Tôi không uống trà được, uống trà làm tôi không đã khát, … nếu tối, mà lỡ uống trà thì tôi mất ngủ, trái lại cà phê bửa tối làm tiêu hóa ngủ ngon… ăn cơm tối xong, tôi thường uống một tách expresso cho dễ tiêu hóa…

Tuần nay, cũng trong tờ tuần báo Obs quen thuộc, có bài viết về gốc gác Cà phê, xin phỏng dịch và mắm muối việt hóa thêm với lời bàn Mao tôn Cương, gọi là chia sẻ cùng quý bà con thân hữu một câu chuyện dzui để tránh cái nóng « chó ngáp » của  Mùa Hè năm nay !

 

A/ Cà phê : Từ thức uống đến quán Café - Cafetteria



 

Cà phê gốc Thổ Nhĩ Kỳ ?:

 

  1669 ngày 04, tháng tám, cách đây chỉ thiếu hai ngày nữa là đúng 350 năm, Soliman Aga,   - người mà theo truyền thuyết Pháp, là nhơn vật đã « nhập cảng » cà phê vào xứ Pháp -         rời tàu đặt chơn xuống cảng Toulon, Vương quốc Pháp. Soliman Aga, đến Pháp với nhiệm vụ  là sứ thần của ông Hoàng Mehmed IV của Thổ Nhĩ Kỳ. Thật vậy, Soliman Aga đến Pháp để trao một bức thư để giải tỏa một hiểu lầm giữa Pháp và Thổ. Thời ấy, dân Pháp đang bị mê hoặc bởi những mầu sắc và  những phong tục huyền bí của Phương Đông đầy quyến rũ … Trên đường từ Toulon lên Paris, dân chúng đầy tò mò, mê hình lạ, cảnh lạ, người lạ, tụ tập suốt đường hành trình của phái đoàn Thổ Nhĩ Kỳ. suốt dọc bên đường, qua những thành phố lớn như Marseille, Aix, Lyon …  dân chúng sắp hàng dài dài, ngắm xem phái đoàn ngoại giao đến từ Trung Đông! Hết ngắm nhìn, lại trầm trồ khen ngợi, nào xiêm y mầu sắc rực rỡ, nào áo mảo lạ, nào khăn vấn đầu – turban lạ mắt, nào áo choàng bằng hàng satin rực rỡ … nào những con chiến mã sặc sở, những ngựa kéo những cổ xe trang hoàng khác lạ... « les chevaux harnachés et caparaçonnés à la mode de leur Pays » ( Les Mémoires du chevalier d’Arvieux » éd de 1735 – Hồi ký của hiệp sĩ d’Arvieux xb năm 1735). Một thân hình vạm vỡ, lủng lẳng bên hông một thanh kiếm cong, dáng người hùng dũng, Soliman Aga cởi ngựa đi đầu đoàn. Với một khuôn mặt rạn nắng đen, với râu hàm rậm, dài nhưng chải chuốt, anh chàng đẹp trai, khoảng tuổi 50 nầy, đầy hấp dẫn, tạo hào hứng cho dân gian xứ Pháp… Ở mỗi nơi chàng và đoàn tùy tùng dừng chơn hay tạm nghỉ là những nơi tấp nập đầy người đến viếng thăm, và cuốn Hồi ký của hiệp sĩ d’Arvieux tả rõ,   người viếng gồm cả hai phái cả nam lẫn nữ – « des deux sexes ». Mọi mọi cử chỉ của phái đoàn, đều được mọi người theo dõi « On le suivait à la promenade, on le voyait manger, prier Dieu – Người ta tò mò đi theo, xem khi họ đi dạo, khi họ ăn uống, cả khi họ cầu nguyện Chúa của họ », chàng hiệp sĩ d’Arvieux tiếp tục viết phóng sự, tỉ mỉ kể chuyện.


 


Lai lịch thật sự của Cà phê:

 

   - Thức uống chàng Soliman Aga mang đến từ Contantinople ? – thủ phủ bấy giờ của xứ Thổ  – tên mới ngày nay là Istanbul.

   - Theo nhà đông phương học - l’orientaliste Jean Leclant, trích một nghiên cứu của Lefèvre d’Ormesson, năm 1951, cà phê được trình bày trong những tách nhỏ bằng sứ nhựt bổn, do những chú hầu bàn nô lệ đẹp trai, trẻ tuổi, trang diện trong những bộ quần áo đẹp của xứ Thổ – le café était servi dans des tasses en porcelaine fabriquées au Japon par des jeunes et beaux esclaves habillés d’un riche costume turc ». « Riêng đối với phái nữ, để làm bớt đắng, Soliman Aga, « một cách nhã nhặn, đầy ga lăng, đề nghị thêm đường – pousse la galanterie jusqu’à offir du sucre » !

    - Và từ đó nảy ra truyền thuyết, và từ đó biến thành huyền thoại, với ít nhiều mắm muối - xin lỗi, với ít nhiều turban, ít nhiều  áo choàng satin, ít nhiều trang sức, khi thì lọ bình bằng sứ Tàu, khi  thì tách chén bằng sứ Nhựt … và cứ như thế tiếp tục được truyền tụng đến ngày nay.

   - Do đó, câu chuyện về Soliman, vẫn tiếp tục được thần thoại hóa, và công vụ ngoai giao của Soliman Aga hoàn toàn thành công. Chàng mang toàn bộ đồ nghề để quảng bá cà phê xứ Thổ của mình. Đặc  biệt là giàn rang cà phê – le nécessaire pour la torréfaction… Và, nói tóm lại, « nghệ thuật chế biến và pha  cà phê là một vũ khí ngoại giao của chàng » !

    - Thế nhưng, nếu ngày nay cái huyền thoại cho rằng chính chàng Soliman Aga đã giúp cho cà phê được phổ biến ở Triều đình Pháp lúc bấy giờ, vẫn còn người tin. Thì sự thật là Cà Phê đã có mặt ở Pháp trước đó một thời gian rồi !  Nhà sử học và địa dư học Christian Grataloup nhắc ta như vậy ! Và nhắc ta cũng chớ quên rằng Vua Louis IV (trị vì 1643 -1715) không chờ đến Soliman Aga nhà ta ( 04/08/1669) để thưởng thức cà phê đâu nhé … ? «  Nhà Vua đã biết uống cà phê trước năm 1669 rồi ! Sổ sách sở thu mua hàng hóa của sở lương thực hoàng gia đã chứng minh việc ấy ! Nhà Vua và gia đình thường dùng cà phê trước khi đi ngủIl en buvait bien avant 1669, les documents liés aux approvisionnements royaux en attestent. Il se le faisait servir dans ses petits appartements avant de se coucher, en famille et en privé » Mireille Jacotin, quản thủ Bảo tàng Viện Muceum dẫn chứng. Theo Bà, Nhà Vua ( xin nhắc lại, Louis XIV sanh 1638, trị vì 1643-1715) hay dùng cà phê khi đi xem những buổi diễn xuất hay trình diễn những chuyện đông phương rất thịnh hành thời ấy… thứ nhứt những buổi trình làng – ra mắt quảng cáo hàng mới nhập từ đông phương.

 

Buổi ban đầu bỡ ngỡ :

 

   Vào những năm 1604, mọi hàng hóa, mọi thực phẩm đến từ Đông Phương đếu do cái hải cảng âu châu đầu tiên chuyên môn nhập cảng của lạ, và kể cả cà phê là Venise (Ý Đại Lợi). Tiếp theo đó là Marseille, « cửa ngõ của Đông phương – La porte de l’Orient » (của Pháp). Năm ấy là 1644, 25 năm trước thời Soliman Aga (1669).

    - Cà phê đã được dùng từ cuối thế kỷ thứ XV tại hai đế quốc Ba tư (Iran ngày nay) và Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) rồi. Những kiện hàng cà phê, và tất cả đồ nghề, cách rang, pha chế cà phê đầu tiên đã do nhà xuất nhập cảng Pierre de la Roque cho nhập bến Marseille từ Constantinople rồi ! Nhà xuất nhập cảng mở một tiệm (chưng bày) nhỏ nhỏ, rang pha chế cà phề cho vài bạn bè thưởng thức  «  Cái căn phòng nho nhỏ trang hoàng kiểu Thổ nhĩ kỳ, là cả một sự vật tạo sự hiếu kỳ, và những người được mời đến thưởng thức chất uống kỳ lạ nầy thường là những người bạn, từng đã du lịch đó đây, kiểu ông chủ tiệm la Roque, gần gủi thân thuộc với phong tục Đông Phương - Son petit cabinet à la turque, passait pour une vraie curiosité et le public invité à goûter le breuvage était composé de voyageurs amis comme la Roque, accoutumés aux usages du Levant » nhà Đông phương học Jean Leclant thuật lại.

    - Thật vậy, thuở ban đầu của cà phê, chất uống thịnh hành ngày nay, đầy bỡ ngỡ, do dự … Vài tay giang hồ đi lại quan biết với Đông phương, kéo theo vài bạn bè tò mò, tìm của lạ … vài nhóm thủy thủ các thuyền buôn, các thuyền giang hồ, vài tay lái buôn, vài tay thích của lạ, mạo hiểm, thưởng thức … thử cho biết …

- Sau Marseille, đến Paris, môt nhà buôn khác, năm 1657, Jean de Thévenot, nhập từ Ai cập  một kiện hàng hột cà phê, để làm quà bà con mình, dể bà con mình thưởng thức chất uống lạ !             Khác với trà, một thức uống Đông Phương khác được nhập cảng vào Âu Châu  rất sớm từ Tàu, và đã được dân La mã ghiền gẩm rồi … thiên hạ thời ấy không biết gì về cà phê cả !

    - Thiên hạ ngày nay,  vẫn cho rằng gốc gác cà phê là ở Yémen, bán đảo À Rập. Lầm to ! Cà phê thật sự đến từ Ethiopie. Thế nhưng, sau khi đã đem các hột giống mọc hoang từ Ethiopie về, vào thế kỷ thứ XII, các hột nầy được thuần hóa, được rang, được giả nát thành bột. Đầu tiên là các thầy sư soufis ( Soufisme một nhánh của Đạo Hồi – dùng lên đồng để hành đạo) dùng cà phê để « phê » nhanh – entrée en transe  – lên đồng nhanh (PVS phỏng dịch)…. Bắt đầu thế kỷ XIV, cà phê bắt đầu theo những giòng người đi hành hương la Mecque … và bắt đầu là thức uống thịnh hành của dân Hồi Giáo. Tiếng a rập gọi cà phê là qahwah !

Qahwah  rất thịnh hành với dân Trung Đông từ đấy.

Từ âm qahwah, của a rập ban đầu biến thành caouat, kawa, tiếng lóng của dân Pháp, rồi biến thành  kaouê, kawé rồi biến thành café, coffee, Kaffié, Kaffee -  cà phê, … đi khắp thế giới !

 

Thức Uống khích thích thế Rượu :

 

   Istanbul, ngay năm 1554, hai chủ nhà hàng người Syriens mở một « quán cà phê » đầu tiên, nơi ấy, là nơi tụ tập, khách ngồi lâu, nhâm nhi ly cà phê, nói dóc, hút thuốc, chơi cờ… Thoạt đầu một tiệm, sau đó nhiều tiệm, các « quán cà phê » mở cửa suốt ngày, thay thế những nhà hàng, những tiệm ăn vặt, … Các tửu điếm ở xứ Hồi không có, vì Hồi Giáo cấm uống rượu … Sau Istanbul, phong trào « quán cà phê » lan tràn đến Cairo, Ai cập, rồi Tabriz, rồi Ispahan… chẳng chốc toàn các xứ Ả rập, xứ ảnh hưởng đạo Hồi ... Chỉ trong vòng chưa đầy một trăm năm, các tiệm cà phê mọc đầy đầt Trung Đông – En moins d’un siècle, le café s’était ainsi répandu dans tout le Moyen Orient » Alain Stella (Le Livre du Café-Flamarion – Viết về Càphê nhà sách Flammarion).

   - Và cứ thế, từ thành công nầy đến thành công khác Cà phê lên như diều gặp gió. Thoạt đầu dân buôn xứ Venise nhập cảng, càng ngày càng nhiều Qahwah - Café - Caffé – Coffee – Kahwê - từ Trung Đông. Dân Trung Đông và Arabe phải đi tìm tận Moka (Hải cảng El Mukkha Yémen trên Hồng Hải)  và do đó cà phê càng cao giá khi đến Âu châu.

   Và tại sao phải nhập cảng ? Tại sao mình không trồng lấy ?  Âu châu thiếu chi thuộc địa ? Nhổ trộm cây làm giống ? Mua hột giống ? « ăn cắp » vài gốc, và hột giống thoạt đầu ở Moka, dân Hoà lan đem trồng thử ở đảo Java, Batavia, thuộc địa mình. (Indonesia ngày nay). Và thành công ! Cà phê Hòa lan vượt cà phê Moka … trên thị trường tiêu thụ !

   - Và từ đó, từ ăn cắp nầy đến ăn cắp khác, các hột giống, các cây giống,  các nhánh giống đem trồng thử khắp mọi nơi. Chẳng chốc Moka tiêu tùng, Hòa lan lên hàng số một. Rồi các nhánh, các cây, các hột giống của Hòa Lan cũng được đưa đi trồng mọi nơi !

   - Từ giống phát sanh từ xứ ả rạp arabica … « lang thang cắm dùi » khác nơi, từ xứ sa mạc cát nóng chạy qua trồng xứ nhiệt đới lại hạp phong thổ hơn, rồi lai giống thành giống robusta. … Thoạt đầu từ Indonesia của Hòa Lan nhập đất Pháp, vào đảo Réunion thuộc Pháp, từ Réunion chu du qua Việt Nam ( cũng thuộc Pháp lúc bấy giờ). Đây là giang sơn cafê phương Đông. Riêng về Phương Tây, Nam Mỹ. Thoạt đầu ca phê được Hòa Lan trồng ở Surinam thuộc Hòa Lan, một anh láng giềng người Pháp đẹp trai, ve vãn bà chủ đồn điền người Hòa Lan ăn cắp hột giống đem về Guyane thuộc Pháp trồng quanh vùng Cayenne ( huyền thoại El Gringo). Đầu thế kỷ 20, lại một chuyện tình khác, cũng một gringo khác, người Bồ Đào Nha ve được một cô chủ đồn điền, người Pháp ở Guyane, ăn cắp cây giống cà phê Cayenne, đem về Brazil trồng. Ngày nay Brazil đệ nhứt xuất cảng cà phê trên thế giới.

 

Kết luận :

 

Cà phê là ma túy ! Có người ghiền !  Có người mê ! Cà  phê mê hoặc lòng người ! Có người Phê với Cà Phê ! Quên sao cái thuở, mới lớn, thời sanh viên Sài gòn, … một chiều mưa gió lạnh, ngồi quán cóc ... chờ em, với một điếu Bastos, mơ màng ngồi ngắm những giọt cà phê phin rơi đều, trên đáy cái ly trong… Cà phê đen đậm, uống không đường, nhâm nhi vị đắng, cùng điếu Bastos xanh đậm đà … buổi chiều chạng vạng, ngoài đường trời mưa gió, trong quán một mình … ngồi chờ em ... nhưng em không đến ! Vì em, nói theo Tây,  nhưng ta dịch -  là cho ta ăn thịt thỏM’a posé un lapin ! Em không đến thăm anh trời mưa… Vị đắng Bastos hòa vị đắng ca phê tại một quán cóc. Nhớ đời, 60 năm sau còn nhớ ! Nhớ Sài gòn da diết ! Nhớ trời gió, mưa lạnh, nhớ điếu Bastos xanh, nhớ ly cà phê phin bây giờ không tìm được. Nhớ chờ một em ! Nhưng ai ? Nostalgie quand tu nous tient !

 

 B/ Cách pha cà phê , và uống cà phê:

 

Cách Đông phương :

  Nếu ở Thổ Nhĩ  Kỳ thì nói Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ gọi Cà phê Thổ – Café Turc

 và nếu qua Hy Lạp nên gọi là ca phê Hy Lạp Cà Phê Hy lạp.

Cả hai đều là ca phê pha kiểu đông phương – orientale – PVS tạm dịch là cà phê luộc, hoặc cà phê nấu sôi. Cà phế vớ ở Sài gòn thuở xưa cũng nấu cái kiểu ấy.  Là cho cà phê vào nước và nấu sôi. Cà phê với các chú chệt Sài gòn Chợ lớn hồi xưa nhờ cái vớ hay hay cái vợt không để xác cà phê trộn vào nước. Còn Cà phê turc hay grec đều có xác cà phê trong cái tách.

  Trong một cái nồi nhỏ – tên là cezve, hay ibrik ( turc), hay briki (grec)… Một cái nồi với một cái cán rất dài, chế muổng « cà phê »  loại cà phê « đông phương » - được xay rất nhuyển. Thêm đường, Thêm nước (một tách nước cho một muổng cà phê). Trộn đều, đun sôi, Khi bắt đầu sôi, tắt lửa ngay, không để được trào… Lập lại, tất cả hai lần. Chế ra tách. Chờ cho bột cà phê lắng xuống, thưởng thức. Uống chậm, nhẹ nhàng, không thì ăn xác cà phê ! Il y a autant à boire qu’à manger. Vừa đủ cả uống lẫn ăn ! Người viết đã thưởng thức. Tại Istambul. Không đã, vì quá ngọt ! Và qua hấp tấp, uống cả xác cà phê. Không phải vị mình …

 Cà phê phin :

  Quý vị biết rồi. Hạp vị Việt Nam

Cà phê piston, ép :.

  Expresso –  Thường uống ở các tiệm cà phê. Quý bạn biết cả, ngày nay, thông dụng là máy expresso mua về nhà. Đủ vị, đủ kiểu, sáng, trưa, chiều tối. Đậm nhạt thơm ngon tuỳ lựa chọn !

Cà phê Ý :

  Rất gắt. Đặc biệt chỉ ở Ý. Uống để phê, chứ không đã khát …

Cái nồi ngồi cái cốc

  Không hạp với cá nhơn thằng tui .. . Uống để nhớ. Chỉ có ở những quán người Việt ở Mỹ

Và cà phê Vớ

  Cà phê không ngon, vì nấu caphê chứ chằng lọc, chẳng ép, gì cả.

Cuối cùng Café instantanné :

  Và là cà phê bột trộn nước sôi.

Bột cà phê, một muổng hai muổng, tùy đâm lợt… Nước sôi vừa sôi.

Trộn đều, uống. Sáng trưa chiều tối. Sáng đậm tối lợt…

Sáng cộng điếu thuốc, tối cộng điếu thuốc…  nghe vợ rầy, bác sĩ la, con cằn nhằn … Ra đi là vừa !

 

 C : Các loại cà phê :

 

 Arabica : Đây là loại cà phê thông dụng nhứt thế giới. Trồng ở độ cao 600 trở lên đến 2000 thước. Tên họ « Coffea Arabica » Ít chất caféine hơn các cà  phê khác. Vị nhẹ

Robusta : Gốc gác từ Đông Phi Châu, Brazil-Ba Tây – Indonesia. Tên là «  Coffea Canephora » Được trồng rất nhiều ở Việt Nam. Không cần ở độ cao lắm dưới 600 thước. Vị đậm gắt, vì chứa nhiều caféine – chất cà phê ! Thằng tui không quen, không thích… quá đắng, vì tôi uống không đường !

Moka d’Éthiopie : Trồng ở độ cao khoảng 1200 thước ở Éthiopie, rất ít caféine. Cà phê hoàn toàn 100 % arabica nguyên thủy.

Kính chúc quý bà con thân hữu thưởng thức những ly cà phề đậm đà thân quý

Hồi Nhơn Sơn, Hè 2019

Phan Văn Song

 

 

Bạc Sỉu

posted Aug 2, 2019, 3:27 AM by Andy Nguyen


Chuyện tình của một cô Couventine

posted Jul 28, 2019, 11:46 PM by Andy Nguyen   [ updated Jul 29, 2019, 11:03 PM ]







Papillon

posted Jul 27, 2019, 1:11 AM by Andy Nguyen



2019-07-26 : Ciné Phòng 5 C2 trại tù Cộng Sản Việt Nam T 20

 

Papillon



Phan Văn Song

Kính thưa quý thân hữu,

Kính thưa quý bà con.

Tại sao hôm nay chia sẻ bà con chuyện của Papillon ? Cuốn tiểu thuyết tự thuật của một anh tù khổ sai, vượt ngục thành công ? …Chuyện thiệt hay giả tưởng ? ... Nhưng anh ta kể lại, có thứ có tự có lớp có lang, hấp dẫn ... một cuộc đời, đầy giang hồ, sóng gió của một tay anh chị, du côn, ma- cô, ma cạo, giết người, chuyện thiệt ? Chuyện giả tưởng ? Tự thuật ? hay chuyện của nhiều người được tác giả gom lại, kể thành chuyện mình ? ... Vì anh nói là anh vô tội, nhưng vẫn bị tòa án xử phạt khổ sai, chung thân, bị đày biệt xứ, sang xứ Guyane (thuộc địa Pháp, nay hoàn toàn là một tỉnh hành chánh hải ngoại Pháp – département français d’Outre-Mer, thủ phủ là Cayenne (nơi sản xuất ớt cay nhứt xứ … Tây – piment de Cayenne). Và  câu chuyện của Papillon, gợi tôi nhớ thời, sau ngày mất nước, thằng tui cũng bị tù đày Cộng Sản, ở trại T20, đường Phan Đăng Lưtrước mặt Lăng Ông Bà Chiểu, Gia định, tối tối, cơm tù xong, mở rạp hát, chiếu phim cho các bạn hữu chung tình, chung tội …

Kính thưa quý bà con,

Thằng tui ở tù Cộng Sản từ ngày 10 tháng 7 năm 1976. Ngày ấy, khoảng 11 giờ sáng, giờ Sàigòn, sau hai tiếng đồng hồ thủ tục xuất cảnh và ngồi chờ, tôi đang sắp hàng đi từ phòng khách phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, Việt Nam, đến phi cơ đang chờ ở phi đạo để xuất ngoại, đi Paris, Pháp Quốc. Hành lý đã gởi, mọi thủ tục đã xong từ hồi 9 giờ, đây là lúc sắp hàng đi ra phi cơ ( những năm ấy còn thô sơ không có xe bus chở khách ra phi cơ, phải sắp hàng đi bộ, kẻ kéo, người xách hành lý nhẹ, đến chơn cầu thang máy bay), thì, bổng một chiếc xe jeep lùn trờ đến, với hai Công An, sắc phục áo vàng, với trát tòa, mời ông cựu Giám đốc Hảng Ladze Nước Ngọt BGI Sài gòn, thằng tui, PVS tôi, trở về Bộ kinh tế làm việc, hứa là khi xong việc, sẽ đáp chuyến bay sau - (hành lý, đã gởi rồi, Air France sẽ giữ, chờ tôi ở kho Paris, Pháp). 

Chuyến bay sau ? Là chuyến bay của Air France, 1427 ngày sau ! Ngày 6 tháng 6, 1980, cũng khoảng 11 giờ sáng, nhưng giờ Paris, tôi đến phi trường Orly, Paris, Pháp Quốc. Chuyến du hành dài 1427 ngày đêm nầy bắt đầu ngay sau khi rời phi đạo của phi trường Tân Sơn Nhứt, chiếc jeep lùn đưa tôi về khách sạn Majestic, và nhốt tôi vào một căn phòng khá sang trọng trên lầu một, với quạt máy, với cửa sổ ngó thẳng ra bờ sông Sài gòn. Và tôi bị giam ở đấy từ trưa ngày 10 tháng 7 đến tối ngày 2 tháng 8. Làm việc - nghĩa là hỏi cung - sáng chiều tối, ngày ba bửa, với nhiều cán bộ khác nhau, thường nói chuyện kỹ thuật kinh tế, sản xuất, … ăn uống đàng hoàng cơm canh rau, nước chấm, đúng kiểu việt nam, ăn ba bửa, có bửa cán bộ đến ăn chung, để chứng minh, đồng cam, đồng khổ ... Nhưng bổng nhiên, tối ngày 2 tháng 8, bổng nhiên, rất bất ngờ, họ đổi thái độ, vào khoảng nửa dêm, họ đánh thức  tôi, và đưa về nhà, số 9, đường Thi Sách, đập cửa, thức gia đình dậy. Và trước mặt vợ tôi, hai chị giúp việc cùng chú tài xế, họ đọc bản cáo trạng, xét nhà và đọc trát bắt giam tôi để điều tra về tội phá hoại nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. May quá, vợ tôi, nhơn viên ngoại giao đoàn, làm việc tại Tòa Lãnh sự Pháp tại Sài gòn, nên việc xét nhà cũng qua loa. Vì tôi đã bàn giao tất cả cho người kế nhiệm dưới sự kiểm soát của Ban Quân quản ngày 8 tháng 7 năm 1976, trước đó rồi - tôi đã từ nhiệm từ hôm ngày 8 -  BGI chuyển nhiệm tôi về Pháp để phái tôi đi làm Giám Đốc Công ty Ladze và Nước Ngọt BGI ở Médan Indonesia. Tất cả tiền bạc giấy tờ trong nhà hoàn toàn sở hữu của vợ tôi, không có gì thuộc BGI cả. Cán bộ Công An đành phải, đàng hoàng ghi nhận và buộc vợ tôi ký là không đụng đến sở hữu của vợ tôi ... Họ ngở ngàn, và bối rồi vì tất cả từ báo chí, sách vỡ, giấy tờ đều không có chữ việt…Vợ tôi không nói được tiếng việt, tôi đành phải thông ngôn … ngày nay cũng lại tại sao hôm đó toán Công An bắt tôi sao quá tử tế và đàng hoàng như vậy ? Thủ tục thiệt ngắn gọn ...Vợ tôi sữa soạn, ít đồ dùng mang theo, tôi được phép đi tắm và thay quần áo sạch – từ ngày bị bắt tôi chỉ độc nhứt một bộ đồ mặc khi đi đường. Ở Majestic, tôi giặt áo, giặt quần vào mỗi buổi tối, mặc xà lỏn ngủ, treo trong phòng, sáng khô, thay quần áo, giặc xà lỏn, mặc quần dài, sơ mi làm việc… cứ thế mà xoay vần… Suốt ngày ở khách sạn nên không đi giầy – nên không cần giặt vớ ! Làm việc với chấp pháp (lấy cung) ăn uống, ngủ ngáy tất cã đều trong một căn phòng. Tối ngủ không được tắt đèn, cửa khóa lại, và chắc có người gát - hay không ? thật sự tôi không biết - tôi không màn để ý, mặc sống chết do số Trời  sắp đặt! Tôi là người đi Đạo Cơ Đốc, tin vào cơ Trời luật Chúa ! Lúc ấy, tại sao tôi vẫn ngu dốt ? vẫn nghĩ rằng sau khi … làm việc… xong, nếu xong, chậm trễ gì, tôi sẽ đi chuyến sau – họ đã hứa mà … ! Nhưng tối 2 tháng 8, mới vỡ lẽ, … nhưng biết để làm gì ? Sau ra khi rời nhà, tôi nay đã bị truy tố, tuy chỉ là tạm giam – garde à vue – nhưng vẫn trực thẳng ... biệt giam, phòng 2, trại Trần Hưng Đạo (Cảnh Sát cũ thời VNCH mình) … Kể từ đó,  tôi mất hẳn ngày tháng, có thể lúc đầu ở tù, tôi có theo dõi và có ý thức ngày tháng, nhưng thú thực với quý bà con, tôi, ngày nay không nhớ những ngày tháng trong thời gian ở tù gì gì cả … Tôi vẫn nhớ đến những chuyện, nhiều chuyện, nhưng ngày tháng quên hẳn. Tôi vẫn biết, rằng một phần lớn những năm tháng tù đày, tôi bị nhốt ở T20, đường Phan Đăng Lưu, trước Lăng Ông, chợ Bà Chiểu. Tại T20, có lúc ở biệt giam, có lúc ở các phòng tập thể, thoạt đầu ở Khu C1, những phòng 7, phòng 9… Sau đó tôi bị chuyển qua khu C2, ở các phòng 7, và đặc biệt ở lâu nhứt là phòng 5. Thỉnh thoảng tôi cũng bị đày đi trại cải tạo. Một lần, Suối Máu, nhưng khi đến trại thì họ chở tôi về lại, một lần khác tôi lên An Khê, chỉ ở một ngày, ngủ một đêm, rồi cũng một xe jeep lùn, cũng hai tên bộ đội, áp tải tôi về. Có lẽ họ lầm tên tôi, hay họ hù tui ? Lần ấy, tôi được chu du đi từ An Khê về lại Saigon, chạy xe suốt ngày, tôi ngồi trước, với tài xế, tay không còng, chỉ còng chơn, còng Mỹ bó cườm cẳng, tê cả chơn thế thôi… Tôi cũng bị đưa lao động chiến trường, gánh cơm ở chiến trường Cam bốt Chia, sau Tết 1979, lội bộ tới Neak Lương, ở bên nầy sông, rồi cũng lại được xe jeep lùn chở về lại Phan Đăng Lưu. Do đó tôi được nếm đủ mùi…chia sẻ nỗi và cảnh đau thương với bà con tù nhơn đi đày trại lao động cải tạo một phần nào - có lẽ nhờ bà vợ ở Ngoại Giao đoàn Pháp, nên họ chỉ cho tôi nếm cho biết mùi thế thôi. Do đó, ngày nay tôi mang một tâm trạng mặc cảm, vì tôi được hưởng quá nhiều may mắn, không khổ bằng thiên hạ, nên chẳng dám có gì để huyên hoan kể lễ...

Chuyện tôi muốn chia sẻ với bạn bè là chuyện tôi có tài chiếu phim, kể chuyện phim, trong  tù. Trong tù để qua ngày, chúng tôi hoặc nấu ăn, … nghĩa là kể chuyện ăn uống cho đã thèm… Nhưng đó là cực hình  Vì càng nói miếng ăn lại càng thèm ăn. Sau là chiếu phim – nghĩa là kể chuyện phim … Cao bồi, tình yêu, chưởng, trinh thám ... Tôi chiếu phim bằng kể các chuyện tôi đọc ở các tiểu thuyết loại trinh thám, loại điệp viên,… loại sách không hàn lâm chẳng văn hóa trí thức, thứ tào lao, đọc đở buồn, đọc để tìm giấc ngủ, đọc khi ngồi máy bay, xe đò, xe lửa … chuyện điệp viên hết của người Anh James Bond 007, đến của người Pháp OSS 117, hay SAS … và một trong các chuyện, một cuốn tiểu thuyết tôi vừa đọc xong, trước khi bị bắt, mua ở chợ trời là Papillon. Mà Papillon, dân Sài gon phe ta cũng biết khác bộn, nhờ cuốn phim vừa chiếu rạp Rex vào cuối năm 1974, hay đầu năm 1975 gi đó … Tôi không biết ngày hôm nay các bạn bè nào đã cũng tôi chia sẻ những ngày tăm tối ở phòng 5 T20, còn nhớ những buổi chiếu phim ấy không ? Ở Mỹ có bồ tèo Mai Thanh Truyết, có bạn già Trần Dạ Từ, có chú em Đinh Quang Anh Thái, ở Việt Nam còn bạn A… Anh Thiện Ý năm qua, mình gặp lại nhau ở Houston hình như có nhắc đến chuyện chiếu phim của mình ...Chiếu phim, là để quên cái hiện tại, để hoài niệm cuộc sống Sài gòn năm xưa, đề quên cái nóng, để quên cái đói, để quên cái thằng bộ đội đang gát phòng giam … và  để Sống Còn…

Tuần qua, mở tờ tuần báo Obs quen thuộc, bổng thấy bài phóng sự kỷ niệm 30 năm 1969 2019 cuốn truyện Papillon ra đời. Ký ức bổng sống lại. Bèn thoáng dịch bài viết về Papillon, chia sẻ cùng quý bạn bè thân hữu bà con. Mong rằng cùng nhau chia sẻ, mua vui cũng được một vài trống canh. Cám ơn quý bạn hữu bà con, cô bác.



PAPILLON chuyện thiệt hay giả tưởng !

Đúng một năm sau cuộc Cách mạng Sinh viên tháng Năm 1968, Henri Charrière, một cựu tù khổ sai – bagnard, từ Guyane trở về, viết một cuốn tiểu thuyết kể đời tù khổ sai của mình và trở thành tay cục cưng – coqueluche của xứ Paris – điệu nghệ. Chỉ vài tháng, trên vài TRIỆU cuốn tiểu thuyết Papillon được bán sạch. Truyện được dịch ra nhiều ngôn ngữ, và được cả đạo diễn Franklin Schaffner dựng thành phim do Dustin Hoffman và Steve McQueen thủ vai chánh, Papillon.

Sanh năm 1906 ở Saint Étienne de Lugdarès ( vùng Ardèche) – một xứ khỉ ho cò gáy của xứ Pháp, tương đương với Năm Căn Cà Mau của Việt Nam ta vậy. Hai cha mẹ, Joseph và Marie-Louise đều là giáo viên làng. Là trai út, sau hai người chị, Henri cục cưng của mẹ. Trong truyện Papillon, chàng kể thuở thiếu thời như một bức tranh lý tưởng. « … gia đình lễ giáo, miệng ăn ngon, mồm nói giỏi, hoa thơm, quả lạ, tai nghe chuyện hay… cậu bé hưởng đủ ... » Thế nhưng, năm 1917, mẹ chàng, Marie-Louise, mất đột ngột sau một cơn bạo bệnh. Thế giới lý tưởng của Henri tan vỡ ! Và chàng bắt đầu nổi chứng, chống đối tất cả mọi kỷ luật, và bị đuổi khỏi trường sau một cuộc đánh lộn. Để tránh bị truy tố, cha chàng đưa chàng vào trường thiếu sinh hải quân, mong rằng với kỷ luật quân đội, chàng sẽ đi vào nề nếp. Nhưng Henri là Henri, và chàng làm thế nào đó, Hải quân cũng – thầy chạy chnàg luôn, chẳng muốn giữ chàng lmà gì nữa !  Nhưng, khi giãi ngũ về lại làng, chàng hơn hẳn dân làng quê mùa đồng lứa. Chàng, nay đã « biết giang hồ », chàng nay «  đã có thành tích », là một « tay anh chị ». Thoạt đầu chỉ là một « đầu nậu » thôi, nhưng chẳng chốc biến thành « đại ca » của một nhóm «du đảng » phá làng phá xóm, làm ăn, kiếm chác quanh làng. Nhưng, chẵng chốc mở rộng biên cương lãnh thổ qua những làng bên cạnh. Thế nhưng, những buổi chợ, những buổi liên hoan, khiêu vũ ở xóm, ở làng dù có ngon lành thật, dù có kiếm sống đặng, nhưng đời sống « anh chị thứ thiệt » là ở Paris. Do đó chàng « du Paris » !

Paris :

Đến Paris. Henri phải đi tìm « chổ đứng ». Các sòng cờ bạc vùng Montmartre, các Casino đánh lớn, các trường đua ngựa là những môi trường hoạt động … Đây vài cú « vay mượn », đó vài vụ « cướp dựt », đây « hỏi giấy », nọ thanh toán … Vài đụng chạm với vài tay « anh chị », « đứng bến », « đầu nậu »… Vài cuộc yêu vội vã, hái vài hoa thơm, khi thành thị, lúc miệt vườn… nào hoa hậu bê-tông, nào ngôi sao đồng nội … và cuối cùng, cuộc tình với « Nénette » Georgette Fourel ... và … và ... Vào một đêm tối trời của ngày 26, tháng 03 năm 1930, vào 3 giờ sáng, Roland Legrand, một tên ma-cô tiểu tốt, đứng bến khu Pigalle, khu đèn đỏ nổi tiếng Paris, bổng ngã xuống, bụng đầy máu vì ăn đạn. Trước khi trút hơi thở, hắn khai Papillon đã giết hắn ! Mà Henri cũng được giới giang hồ Paris gọi hắn là Papillon ! Vì Papillon – một con Bướm, được xâm trên ngực Henri vào lúc thiếu thời, khi chàng ở ngục Calvi, trên đảo Corse năm 1920 – Papillon, con bướm, điển hình cho Tư Do, cho con sâu rọm xấu xí, nay đã trưởng thành bướm vàng rực rỡ, tung cánh tự do. Và Henri chối hẳn, không nhận mình hung thủ, bảo rằng Paris lúc bấy giờ rất có nhiều người có tên giang hồ Papillon ! Có thể ! Nhưng cảnh sát chỉ bắt được Henri ! Và hôm ấy chỉ có Papillon - Henri chàng ta là bị cảnh sát tóm cổ thôi! Và dù Henri có kêu oan đi nữa, Toà vẫn không tin và tuyên án khổ sai chung thân Henri vì tội cố sát !




Tù khổ sai – le bagne

Khổ sai - địa ngục trần gian. 13 năm tất cả ! 13 năm và 9 lần vượt ngục ! Vì với Papillon, ngay ngày đầu khi đặt chơn xuống đất tù Guyane, trong đầu Henri đã nổi lên ý chí phải vượt ngục ! Phải tìm tự do ! Để  trả thù, những ai đã buộc tội mình ! Và chứng minh mình vô tội ! Và Papillon, từ đấy, ngày đêm chỉ nuôi ý chí phải vượt ngục !… Và cuốn truyện kéo người đọc một lèo, lôi cuốn. Người đọc chia sẻ, say sưa với cái nỗi ám ảnh của vượt ngục của Henri ! Người đọc theo dõi anh tù khổ sai gan dạ, anh hùng, kẻ cả, được tất cả các tù nhơn khác mến mộ (dĩ nhơn « cái mền » phải được kéo về nhơn vật chánh ) Giọng văn dí dỏm, lôi cuốn, đầy cảm tình với tác giả. Khổ thì khổ đấy, nhưng những cái nhìn của Henri Papillon không uất hận, trái lại đầy tình người, khi tả cái cảnh phải làm việc cùng các bạn tù « cùi », khi nhìn thấy anh bạn cùi « rụng một ngón tay », mà vẫn tỉnh bơ ...  Hay khi sống với đám thổ dân Gualiros. Kể chuyện trong một lần vượt ngục, chàng tắp vào đảo của các thổ dân ấy, được nuôi sống và được cả người tù trưởng gả cả hai người con cho làm vợ. Chàng nếm được tình yêu và nhục dục nơi các cô thiếu nữ, chuyên nghề lặn vớt hột trai – pearl. Hai nàng thanh nữ, một khoảng 16 đến 18, và một cở 13/14 tuổi. Với « … hai quả đào chỉ to bằng hai quả quýt »… Lâm ly, ướt át, như những loại tiểu thuyết hạng hai.

Còn những chuyện vượt ngục ? Toàn chuyện ngoài sức tưởng tượng ? Thiệt ? Giả ? Hoàn toàn xạo ? Thêm mắm thêm muối ?  Có có không không ! Chả sao ! Nào chuyện Papillon vượt với môt chiếc bè đóng bí mật trong một nghĩa địa, nào chuyện Papillon bắt cóc một giám đốc nhà tù, trong một buổi thánh lễ tại nhà thờ, dùng áp lực để vượt ngục, nào chuyện Papillon, đánh thuốc ngủ anh cai ngục, nào chuyện Papillon dùng thuốc nổ phá tường ngục ... Mọi thất bại đều chuốc những hình phạt nặng nề, dã man, gông cùm, …. Nhốt nhà kín – cachot, réclusion là một hình phạt ghê rợn nhứt ! - Cộng Sản Việt Nam, ghê rợn nhứt là nhốt connex, tủ sắt ... Papillon đáng lý phải bị nhốt trong một phòng kín, nhỏ xíu, không ánh sáng, 8 năm ! Và nếu vậy, chắc chắn rằng nơi ấy sẽ là mồ huyệt của chàng. May mắn thay, mầu nhiệm thay, một hôm, một trong những buổi được phép ra « tắm nắng », chàng nhảy xuống biển đầy cá mập để cứu một em bé gái con một quan chức chẳng may trợt chơn rơi xuống biển. Nhờ hành động dũng cảm nầy, án nhà kín được tạm ngưng. Và dĩ nhiên, cái án treo «  nhà kín » ấy cũng không chàng chồn chơn. Và chàng lại vẫn tiếp tục mơ vượt ngục. Cuối cùng, bị đày ra đảo Ma Quỷ – l’île du Diable. Ở đấy, cùng một người bạn, hai chàng vượt ngục trên những chiếc bè gồm những bao cát, đầy dừa khô kết lại ...Và … và …  cuối cùng chàng thành công năm 1944 ! Thở phào, mừng cho Henri !



Đổi cảnh, đổi đời :

Một cuộc đời mới bắt đầu. Ở tuổi 38, ở Venezuela, Henri làm việc ở một công ty dầu hỏa một thời gian. Sau đó, chàng làm quản trị cho một khách sạn cùng cô bạn mới, Rita. Ít lâu sau, hai người đồng quản trị một khách sạn, tên Vera Cruz tại thành phố Maracaibo, 80 cây số cách biên giới Colombie … Cuộc sống của chàng nay tạm ổn định ! Nhưng phép mầu nhiệm nào biến tên tù vượt ngục thành một tác giả của một best-seller ? Giai thoại kể rằng năm 1967, Henri Charrière, đi ngang qua một tiệm sách Pháp ngữ ở Caracas. Trong quầy sách bày cuốn tiểu thuyết « L’Astragale » tác giả Albertine Sarrazin, với lời giới thiệu rằng đây là chuyện do một cựu phạm nhơn vượt ngục viết, và với giòng tiếp theo là xuất bản tại Paris 123 000 bản.  Henri Charrière nhà ta, tò mò mua và đọc. Đọc xong, bỏ sách xuống, chàng chê và tuyên bố  « chuyện chỉ như vậy mà bán được 123 000 cuốn, chuyện mình chắc chắn sẽ bán ba lần hơn ! ». Và chàng bắt tay vào việc. Mỗi ngày, sau quầy hàng tiệm rượu Scoth-Club, tiệm đang nuôi sống chàng và vợ chàng… chàng miệt mài viết.  6 tháng, 13 cuốn vỡ học trò.

Viết xong, chàng gởi đến nhà xuất bản của tác giả Albertine Sarrazin, Jean-Jacques Pauvert. Thế nhưng, Jean-Jacques Pauvert đã bị phá sản. Người phụ tá thân cận nhứt của của Jean-Jacques Pauvert, Jean-Pierre Castelnau, đọc được bản thảo của Henri, thích quá, bèn cầm bản viết tay của Charrière đi tìm Jean François Revel, nhà Giáo, nhà Triết học nổi tiếng thời bấy giờ, để chia sẻ cái hào hức của mình và nhờ ông Giáo sư giới thiệu cùng đến gặp Robert Laffont, chủ nhà xuất bản sách số một Paris thời bấy giờ. Sau đây là hồi ký của cô con gái của Robert Laffont, Anne Carrière, nay cũng là một nhà xuất bản, kể lại : « Lúc ấy, cha chúng tôi ở Neuilly, (ngoại ô sang trọng phía Tây Paris), và tôi nhớ mãi, cái hôm ông đang ngồi đọc bản thảo tay của Charrière, ngoài vườn. Tôi đến gần ông (Anne năm ấy 20 tuổi), ông ngẩn đầu lên, và nói : « Cuốn truyện nầy thật quá hấp dẫn ; chắc chắn ta sẽ vượt con số bán là 10 ngàn cuốn ! ». Và Ông bán một triệu cuốn ».

Ông quyết định cho xuất bản ngay. Giữa ông và tác giả không gì trục trặc, ngoài cái tựa. Ông quyết định dùng tựa là Papillon. Papillon không chịu. Nhứt định phải là « Con đường đầy  nhục nhã – Le chemin de la pourriture ». Vincent Didier, người từng viết tiểu sử của Henri Charrière, (Papillon libéré – Con bướm được tự do nxb La Fontaine de Siloé) chứng nhơn vụ đặt tên cuốn tiểu thuyết ấy : «  Charrière giận dữ đứng dậy, nắm cà vạt nhà xuất bản, thốt : «  Không được dùng tên Papillon ». Một lúc sau  Robert Laffont, nhờ tôi hỏi Charrière tại sao tên Papillon tạo sự giận dữ như vậy. Charrière trả lời, cái tên Papillon nhắc hắn ta một quá khứ quá đau buồn của thời niên thiếu ». Cuối cùng Robert Laffont cũng đạt được ý muốn nhờ can thiệp của Rita, cô vợ của Charrière. Theo nàng, nhà xuất bản có lý.  Cuốn tiểu thuyết Papillon ra mắt độc giả tháng 5/1969. Ngay tuần lễ đầu đã là 300 000 cuốn rồi, bán sạch, tuần sau, vượt 400 000 và vào giữa hè năm ấy con số xuất bản tròn chẳn Một Triệu cuốn !

Ngay những ngày đầu, thành công đã rực rở, các nhà nhận định đều khen ngợi. Chỉ trong vài tuần lễ, tiểu thuyết Papillon, số một thống kê số sách bán, hạ cả số bán của sách trúng Giải Goncourt « Creezy » của Félicien Marceau. Charrière từ nay, là con cưng của giới bãnh Paris. Được mời mọi nơi, nhưng vẫn còn những vụng về của tay, tuy anh chị, nhưng còn nhà quê. Anne Carrière kể :  « Ba  tôi (nhà xuất bản Robert Laffont) tổ chức một buổi cơm trưa, mời khoảng 15 nhà ký giả gộc đến gặp Papillon, trong một tiệm ăn sang trọng ở Paris. Tôi (Anne Carrière) ngồi không xa Papillon lắm. Món ăn đầu là cá, và như thường lệ trong các loại nhà hàng nầy, nhà hàng dọn ra một cái chén nhỏ đựng nước với một lát chanh để rửa các ngón tay – rince doigts – Anh chàng Charrière, đúng dân nhà quê, chưa bao giờ thấy một cái rince doigts, và cũng không biết thông dụng, bèn bưng cái chén nhỏ và húp. Do đó, tôi cũng phải làm như vậy, ba tôi cũng làm theo, và mọi người đều bưng chén nước và húp ».

Nhờ có duyên, và tài kể chuyện, Henri Charrière chinh phục từ người dân thường đến những tài tử ngôi sao, hay người quý phái. Henri được chụp hình cạnh Françoise Hardy, Johny Halliday hay Brigitte Bardot. Dĩ nhiên có bề mặt cũng có bề trái, Charrière bắt đầu bị ganh tỵ, ghen ghét … năm 1970, đã có vài cuốn sách ra chống chàng. Nhưng chàng, lờ cả, cho pha hết, và bắt đầu thoải mái với cái nghề mới của mình. Năm 70, chàng viết kịch bản - scenario cho cuốn phim « Popsy Pop » và đóng phim cạnh Claudia Cardinale, cho ra đời hai dỉa hát «  Papillon kể những chuyện kỳ diệu về các người bạn indiens cho các trẻ Papillon raconte aux enfants les merveilleuses histoires de ses amis indiens » và để chống những người còn nghi ngờ tài nghệ mình, chàng viết cuốn tiểu thuyết « Banco » năm 1973. « Papillon như một đứa trẻ con, với đôi mắt mở to, mê mẫn trước tất cả những sang trọng – Il témoignait devant le luxe, d’un émerveillement d’enfant ! » Robert Laffont nhận xét về cái ngây thơ thật tình của Henri trước sự thành công.

Một hôm, hai người cần phải đi New York, Henri buộc nhà xuất bản phải mua cho mình ghế máy bay hạng business – business class ! Nhờ đó mà, vô tình, Robert Laffond ngồi cạnh nhà sản xuất phim của đạo diễn J. Schaffner tác giả sắp sữa dựng phim Papillon với Dustin Hoffman và với Steve Mc Queen trong vai chánh Papillon. Khi xuống New York, Charrière vừa chưởi thề vừa nói với nhà sản xuất : «  Tu vois, couillon, celui-là, c’est pas en économique que tu l’as rencontréĐM, nếu đi hạng chót làm sao gặp tên nầy ! ». Henri Charrière mất năm 1973, khi cuốn phim được ra lò. Đời của Charrière đến phút cuối vẫn hư thực lẫn lộn như một cuốn phim.

Phỏng theo bài phóng sự của Elisabeth Philippe tuần báo OBS số 2853 tuần 11 đến 17 072019.

TB : Cuối năm 1980, tôi được Robert Despierres, anh bạn Pháp, sanh ở Việt Nam, quen nhau từ Sài gòn, rủ tôi nhận công tác dắt một đoàn 80 người Hmong,  tỵ nạn Cộng Sản qua lập nghiệp ở Guyane. Do đó tôi được dịp công tác và du lịch 6 tháng ở Guyane. Tôi có viếng Cayenne thủ phủ, Đảo Ma Quỷ - île du Diable, xem những di tích của trại khổ sai …. Do đó thỏa mãn một cái tò mò và cũng là … Một tình cờ thú vị !

Hồi Nhơn Sơn, những ngày nóng « chó ngáp » canicule 2019

Phan Văn Song 

Activities for Father's Day

posted Jun 14, 2019, 2:49 AM by Andy Nguyen


1-10 of 150